Những Sắc Thái Đặc Thù Của Phật Giáo

01/03/20177:12 CH(Xem: 485)
Những Sắc Thái Đặc Thù Của Phật Giáo

Những Sắc Thái Đặc Thù Của Phật Giáo

 

Nguyễn Trần Ai

 

Tiếp theo số báo 65
Chương II. CẢI CÁCH PHẬT GIÁO
Tiết II. Các đặc điểm của cải cách Phật Giáo
Điềi 2. Các yếu tố xây dựng
 
II.II.2.C. NGHỊCH LÝ         
            Nhà phân tâm học Thụy Sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) ca tụng nghịch lý: “Lạ kỳ thay, nghịch lý là một trong những sở hữu tinh thần giá trị nhất trong khi tính đồng loạt của ý nghĩa (uniformity of meaning) là một dấu hiệu của nhu nhược” (“Psychology and Alchemy”. Trang 15)..
 
Phật Giáo trân quý nghịch lý
Phật giáo trân quý những sở hữu tinh thần giá trị nhất ấy.
Betty Kelen khẳng định:
Đức Phật làm đầy bài giảng với những ngụ ngôn, ngoạn mục và luôn luôn đi thẳng vào đề. Ngài nhuệ mẫn và thích thú với những nghịch lý và chơi chữ (Gautama Buddha In Life and Legend, 128).
Học giả Anh-Đức Edward Conze (1904-1979) xác nhận:
Những triết gia Phật giáo khác những triết gia được nuôi dưỡng trong truyền thống Aristote <*> ở chỗ họ không sợ, trái lại rất thích mâu thuẫn (Le Bouddhisme dans son Essence et son Développement, 129).
Giáo sư Mircea Eliade tìm thấy nghịch lý trong giáo lý của Đức Phật:
Đấng Giác Ngộ cũng phản đối lễ thức chủ nghĩa Bà la môn chẳng kém ái khổ chủ nghĩa quá đáng và những suy luận siêu hình. Do đó ngài nhắc lại và làm cho sắc bén hơn những chỉ trích các nhà chiêm niệm Áo nghĩa thư đã phát biểu để chống lại lễ thức chủ nghĩa hóa thạch và khổ hạnh (tapas) quá đáng; mặt khác ngài cũng phản đối cả sự khoác lác -- phần lớn là được trình bầy trong các Áo nghĩa thư cổ điển -- rằng cứu vớt chỉ có thể có bằng con đường của tri thức siêu hình…
Có thể hiểu được dễ hơn tư thế có vẻ như nghịch lý này, trong đó Đức Phật phản đối cả các giáo điều chính thống lẫn những kỷ luật chiêm niệm-khổ hạnh, vậy mà đồng thời lại ứng dụng những phạm trù và kỹ thuật của chúng, nếu ta xét đến sự kiện là ngài định đi vượt khỏi những công thức triết học và các quy tắc huyền bí thịnh hành vào thời của ngài, ngõ hầu giải phóng con người khỏi ách thống trị của chúng và mở ra cho con người Tuyệt Đối “đạo”. Nếu ngài tiếp thu sự phân tích không thương sót -- mà phái Số Luận và Du Già tiền cổ điển đã dùng để nghiên cứu ý niệm “con người” và sinh hoạt tâm thần -- chính vì “Ngã” không dính líu gì đến cái thực thể ảo tưởng ấy, cái “linh hồn” của con người (Le Yoga: Immortalité et Liberté, 168).
Giáo sư Donald S. Lopez Jr. đưa ra một số nghịch lý trong Phật giáo nhưng cũng “chẳng sao”, cũng vẫn là Phật giáo:
            Đức Phật dạy, hay người ta nói thế, rằng chúng sinh trên hoàn vũ đều là đối tượng của việc tái sinh vô thủy, đến nỗi chúng sinh trên hoàn vũ đều hiện diện khi ngài dạy con đường giải thoát ở Ấn Độ cách đây hai ngàn năm trăm năm. Có người có diễm phúc được nghe giáo huấn của ngài và đem ra thực hành đã có thể theo con đường và thoát khỏi tái sinh. Những người khác, kém may mắn, vẫn tái sinh mãi mãi. Họ không có cơ hội ngồi trong vòng những đệ tử của Đức Phật. Nhưng Đức Phật bảo, hay người ta nói thế, ngài không sáng tạo ra con đường mới nào cả, hay khám phá ra con đường nào trước kia không được biết đến, nhưng chỉ giản dị là đã tiết lộ con đường bị lãng quên từ lâu. Con đường đã được nhiều Phật từ thuở xa xưa dạy. Ngài chỉ là một trong nhiều Phật. Những đấng từ bi ấy sẽ lại xuất hiện trên thế gian này. Và trong khi chờ đợi, giáo lý của vị Phật sống ở Ấn Độ cách đây hai ngàn năm trăm năm, Đức Phật của chúng ta, sẽ còn lại ở thế gian. Khi đọc các văn bản Phật giáo, chúng ta thấy nhiều con đường và nhiều mô tả khác nhau về trạng thái giải thoát khỏi tái sinh, thế cũng chẳng sao. Ngay cả có những tiên đoán khác nhau về thời gian giáo lý của Phật tồn tại ở thế gian trước khi nó rơi vào lãng quên, lại cũng chẳng sao cả. Theo nghĩa ấy, những đặc điểm về thời gian, không gian và ngôn ngữ dường như kém phần quan trọng. Nếu ai ai cũng đã tái sinh vô số lần trong quá khứ, thì ai ai cũng đã tái sinh tại vô số nơi và đã nói vô số ngôn ngữ. Và nếu Đức Phật được coi như là một vị thầy khéo đã nhận ra những xu hướng và khả năng khác nhau của những người nghe ngài, dạy những điều khác nhau cho những người khác nhau theo nhu cầu của họ, thì những mâu thuẫn trong giáo lý có lẽ chỉ là phiến diện. Đức Phật, bất cứ được hiểu như thế nào và bất cứ được ghi lại như đã nói như thế nào, cũng cho một điểm quy chiếu cho cái gọi là Phật giáo (The Story of Buddhism: A Concise Guide to Its History and Teachings, 9).
Edward Conze nêu ra một nghịch lý Phật giáo quan trọng đến nỗi thiếu nó thì xã hội ngày nay đã khác hẳn:
Một trong những điều hài hước của lịch sử là Phật giáo, cái hệ thống phi thương mại và ngay cả phản thương mại ấy, lại hóa ra chủ xướng một công cụ mà thiếu nó thì thương mại chủ nghĩa hiện đại khó mà đã có thể phát triển được. Không sáng chế ra một con số không (zero hay nought) thì các chủ tiệm, các ngân hàng và các nhà thống kê của chúng ta sẽ hãy còn lúng túng xoay sở bên phải bên trái với cái bàn tính (abacus) lủng củng. Cái vòng tròn nhỏ mà chúng ta biết như là con số không, người Ả Rập khoảng năm 950  biết như là shifr, rỗng không, rồi sau thành cifra trong tiếng La Tinh, khi vào khoảng năm 1150 số không đến Âu Châu. Trong Anh ngữ, lúc đầu chúng ta gọi số không là `cypher' và cypher không là gì khác hơn là Phạn ngữ sunya (Le Bouddhisme dans son Essence et son Développement, 131). 
 
Cứ thử tưởng tượng làm một bài toán lớp bét mà không có con số không (zero) có làm được không? Từ đó sẽ không thể có những tính toán khoa học và không có văn minh vật chất là cái mà chính Phật giáo không hoan nghênh. Vì thế đây là nghịch lý vĩ đại nhất.
Nancy Wilson Ross (1901-1996), quê ở Olympia, thủ phủ bang Washington, một tác giả chuyên về tôn giáo Đông phương, cũng có một nhận định tương tự
Các triết gia Phật giáo không co rút lại trước nghịch lý và mâu thuẫn. Trái lại, không những họ có vẻ chấp nhận chúng một cách dễ dàng, như là một phần của tính bất khả tư nghị <**> của đời sống, họ còn có vẻ như sảng khoái trong chúng. Hiển nhiên là khi Phật giáo đạt đến sự phát triển được biết ở Tàu như là Thiền (Ch'an) và ở Nhật như là Zen, chính khái niệm nghịch lý là một chương trình hoạt động căn bản của giáo lý, được quan niệm như là yếu tố tương tùy không tránh được của điều kiện nhân bản lưu hoạt và bất định (Buddhism: A Way of Life and Thought, 20-2).
 
    Chú thích:
<*> Aristote (Pháp) hay Aristotle (Anh) (384-322 trước Kitô) người Hy Lạp là một triết gia quan trọng nhất Âu Châu, học trò của Plato và là thầy dạy A Lịch Sơn đại đế, có thể coi là thủy tổ của triết học Tây phương Có dịp tôi sẽ trình bầy đối chiếu tư tưởng của ông với Phật giáo.
<**> Trong Phật giáo, bất khả tư nghị hay bất khả tư nghì  (Phạn: Acinteyya) nghĩa là không thể nghĩ bàn. Có bốn điều không thể nghĩ bàn: quả của nghiệp (kammavipāko), Phật trí (buddhavisayo), tâm (lokacintā). Với tâm trí bình thường của phàm nhân chúng ta những pháp acinteyya chỉ có thể hiểu phần nào mà không thể hiểu trọn vẹn hết, nghĩa là chỉ có thể tường tri (sanjànàti), cao lắm là thắng tri (abhijànàti), không thể nào liễu tri (parijànàti) được.
 
Nghịch lý trong Thiền
           
Thiền tông từ nguyên thủy đã mang tính cách ẩn dụ và nghịch lý. Giữa hội Linh Sơn, Đức Phật đưa nhánh sen vàng giơ lên trước đại chúng, tất cả đều ngơ ngác, duy chỉ có Ngài Ma-Ha Ca-Diếp (Mahākāśyapa) nhìn Phật mỉm cười và được Phật truyền thừa Tâm pháp. Đức Phật xác nhận trước đại chúng: “Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, Pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp” và Ngài nói bài kệ:
 
Pháp bổn pháp vô pháp, 
Vô pháp pháp diệc pháp 
Kim phó vô pháp thời, 
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch
Pháp gốc pháp không pháp 
Pháp không pháp cũng pháp 
Nay hồi trao không pháp 
Các pháp đâu từng pháp.
 
Thiền môn truyền đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (Phạn: bodhidharma, Nhật: bodai daruma: 470-543) sang Tàu dạy: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến Tánh thành Phật” thế mà cho đến nay có đến hàng ngàn, hàng vạn cuốn sách đủ thứ tiếng viết ra để trình bầy, giải thích, bình luận Thiền.
 
Đến đời Lục tổ Huệ Năng (Hui-neng: 638-713) nghe trôm Ngũ tổ Hoằng-Nhẫn (Tàu: Hóngrěn, Nhật: Gunin) giảng Kinh Kim-Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì chứng ngộ và thốt lên bài kệ:
Hà kỳ Tự tánh bổn tự thanh-tịnh, 
Hà kỳ Tự tánh bổn bất sanh diệt, 
Hà kỳ Tự tánh bổn tự cụ túc, 
Hà kỳ Tự tánh bổn vô động diêu, 
Hà kỳ Tự tánh năng sanh vạn pháp."
Dịch:
   Không dè Tự tánh vốn tự thanh-tịnh, 
Không dè Tự tánh vốn chẳng sanh diệt, 
Không dè Tự tánh vốn tự tròn đầy, 
Không dè Tự tánh vốn không lay động, 
Không dè Tự tánh năng sanh các pháp.
Không dè một ông nhà quê thất học người thiểu số (Man di) <*> chuyên gánh nước giã gạo bổ củi lại bỗng dưng hiểu Phật pháp cao siêu đến thế. Thế không phải là nghịch lý sao.
Huệ Năng chặt tre, của danh họa Liang K'ai (1140-1210)
 
Thiền sư D. T. Suzuki giảng nghịch lý trong Thiền:
           
Chúng ta đều biết các nhà huyền học thích dùng lối nói nghịch để phô diễn cái thấy riêng... Tôi tin rằng lược qua phần văn học lí giáo, ta có thể lượm lặt đủ câu đàm huyền luận diệu thành một pho hợp tuyển phi lý nghịch đề. Thiền vẫn nằm trong công lệ ấy, có khác là ở cách diễn đạt chân lí, Thiền có cái gì kì đặc của Thiền. Cái gì ấy là sắc thái cụ thể và sinh động trong lối nói. Thiền không chiu nổi các trừu tượng. Xin đưa ra vài thí dụ:
           
          Phó đại sĩ nói:
                        Tay không: nắm cán mai
                        Đi bộ: lưng trâu ngồi
Theo cầu qua bến nước
Cầu trôi nước chẳng trôi.
 
Thật là phi lí không gì hơn, nhưng cái phi lí ấy lại tràn ngập trong Thiền. “Hoa không đỏ, liễu không xanh”, đó là một câu nói đầu miệng trong đạo Thiền, thuộc thể phủ định, và được coi như tương đương với thể khẳng định này, “Hoa thì đỏ, liễu thì xanh”. Đặt theo hình thức luận lí học, câu ấy sẽ là thế này: “A vừa là A vừa chẳng phài là A”. Nếu vậy, tôi là tôi, mà ông cũng là tôi. Triết học Ấn Độ gọi thế là tat tvam asi. “Ông là cái kia”. Nếu vậy thì thiên đường tức địa ngục và Thiên Chúa tức Sa Tăng.
 
Với người Công giáo mộ đạo, thật không gì chỏi tai hơn là Thiền! Ai đời Cam uống rượu mà Quít say! Ấy thế mà ông Duy Ma Cật, con người im lặng như sấm sét [mặc như lôi] ấy, lại tâm sự rằng ông bịnh vì chúng sanh bịnh. Quà thật tất cả những tâm hồn chí thánh chí thiện đều thân thiết mang trong người cái Đại Nghịch Lí của vũ trụ vậy... Thiền không ngại thờ ơ chối bỏ tất cả những gì thân thiết nhất trong kinh nghiệm của chúng ta. “Tôi đang viết đây mà chưa hề viết một chữ; có lẽ ông đang đọc đấy, nhưng trong đời không có ai đọc hết. Tôi điếc tôi mù, nhưng tôi thấy đủ thứ sắc màu, phân biệt đủ thứ tiếng động”. Cứ thế, các Thiền sư tiếp tục mãi, không cùng.
           
Rồi ông kể những giai thoại nghịch lý về các Thiền sư trứ danh Ba Tiêu Huệ Thanh, Triêu Châu lão nhân, Nam Viện Huệ Ngung, Tào Sơn Bổn Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhân (“Thiền Luận”, quyển thượng, Trúc Thiên dịch, trang 441-447; “Essays in Zen Buddhism”, first series, 272-274).
           
Một thiền sư có những hành vi nghịch lý nổi tiếng là Đan Hà Thiên Nhiên (Dānxiá Tiānrán: 739-824). Ông đi thi lận đận mãi. Về sau, ông tò mò muốn tìm hiểu Phật pháp, bèn tìm đến đạo tràng của Thiền sư Mã Tử Đạo Nhất (Ma-tsu Tao-i: 709-788), sau một thời gian ông được tổ Đạo Nhất gửi đến tu học với tổ sư Thạch Đầu Hi Thiên (Shítóu Xīqiān: 700-790), sau ba năm tu học với Tổ Thạch Đầu thì đắc đạo, trở về với đạo tràng của tổ Đạo Nhất. Trở về chùa, ông đi thẳng vào tổ đường mà không đảnh lễ, còn leo lên ngồi trên lưng tượng Bồ Tát Văn Thù. Sư chúng thấy vậy thất kinh không dám làm gì, lên thưa với tổ Đạo Nhất. Thiền sư xuống tổ đường thấy Đan Hà thản nhiên ngồi trên lưng tượng đức Văn Thù, tổ thích quá liền nói: "Ô, ngã tử thiên nhiên!" (ồ, con ta tự nhiên quá!) Đan Hà mới bước xuống lạy tổ: "Cám ơn hòa thượng đã ban pháp danh cho con", từ đó thiền sư Đan Hà có tên là "Đan Hà Thiên Nhiên". 
 
  Có lần tổ Đan Hà đến chùa Huê Lâm vào mùa Đông, khí hậu rất lạnh. Tổ thấy mọi người trong chùa tu học rất siêng nhưng lại cố chấp, thà chịu rét, chịu cóng chứ không có củi sưởi. Tổ bèn lấy một tượng Phật bằng gỗ, chẻ ra bỏ vào lò để sưởi. Tất cả các thầy ở trong chùa đều phản đối. Họ đi thưa với thầy viện chủ. Viện chủ hỏi: "Tại sao dám đốt tượng Phật?" Tổ Đan Hà lấy cây que khơi tro than ra tìm gì đó. Viện chủ hỏi: "Tìm cái gì?" Tổ nói: "Tìm ngọc xá lợi". Viện chủ hỏi: "Tượng gỗ làm sao có xá lợi?" Tổ mới nói: "Nếu tượng gỗ này không có xá lợi thì đem mấy cái tượng gỗ khác xuống đốt cho luôn".
           
Kỹ thuật Thiền là phá công án hay thoại đều. Yoel Hofmann sưu tập được 281 công án, dịch ra Anh văn và giải thích, trong đó có công án nổi tiếng “Tiếng vỗ của một bàn tay” của thiền sư Nhật Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin Ekaku: 1686-1769). Tác giả lấy tên công án này đặt cho tác phẩm của ông, “The sound of one hand”. Huệ Hạc là một trong những thiền sư quan trọng nhất của tông Lâm Tế (Nhật: Rinzai). Mặc dù dòng Lâm Tế đã có từ lâu tại Nhật, nhưng Sư là người đã phục hưng, cải cách lại thiền phái này đã bắt đầu tàn lụi từ tk XIV. Tuy là người tổng kết lại các công án, Sư nhận thấy rằng nhiều người đã ham thích suy tư về công án mà quên hẳn tu tập thiền định nên Sư nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc ọa thiền.
           
Lâm Tế nổi tiếng vì những truyền kỳ Zen như tiếng hét “Katsu! hay Katz!” Ông cũng hay vung gậy đánh đệ tự đến tham thiền. Đó là những phương tiện thiện xảo (upāya) dùng để tác động mãnh liệt quét sạch tất cả các ý nghĩ nhị nguyên, vị ngã khỏi tâm người đệ tử. Mã Tổ Đạo Nhất (Măzǔ dàoyī/Ma-tsu Tao-i, Nhật baso dōitsu: 709-788) cũng nổi tiếng vì tiếng hét như sấm (tích Mã Tổ quát một tiếng, Bách Trượng Hoài Hải (Bǎizhàng Huáihǎi, Nhật: Hyakujō Ekai: 720-814) bị ù tai ba ngày.
 
Lâm Tế chia ra 4 loại hét: Tiếng hét như gươm báu vua Kim Cang, Tiếng hét như bốn vó sư tử vàng trụ bộ trên mặt đất, Tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ, Tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét.
 
Ông chia ra 8 loại đánh (bát bổng): Thưởng bổng, Phạt bổng, Tung bổng, Đoạt bổng, Ngu si bổng, Hàng ma bổng, Tảo tích bổng, Vô tình bổng 
           
Ông đề ra “Tứ Liệu Giản”:
Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh
Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân
Hữu thời nhân cảnh câu đoạt
Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt)
Dịch
      Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh
      Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân
      Có khi nhân cảnh đều đoạt
      Có khi nhân cảnh đều không đoạt
           
Sau khi bình phẩm các tác giả viết về Thiền phàn nàn “không cố gắng trình bầy có thứ tự về đề tài Thiền” như R.H. Blyth, thiền sư Philip Kapleau chỉ trích cả công án lẫn những giai thoại Thiền:
           
Thực không gì nhầm lẫn hơn thế. Sự kích thích tiến gần Thiền về mặt lý thuyết đối với các trí óc hàn lâm và những tò mò trí thức còn có thể được, song đối với những kẻ tìm kiếm mong được giác ngộ nhất thì nó còn tệ hơn vô ích nữa. Bất cứ ai nghiêm chỉnh cố gắng thực hành Thiền  sau khoi đọc những cuốn sách thực hành như thế không những chỉ thấy chúng đã chuẩn bị cho mình tọa thiền một cách nghèo nàn như thế nào mà thực tế còn cản đường mình đến đâu bằng cách trói buộc tâm mình vào những mảnh vỡ của các công án và những mảnh vụn của triết học, tâm lý học, thần học và thơ ca khuấy động đầu óc, làm cho mình trở nên khó khăn vô cùng trong việc tĩnh tâm và đạt trạng thái chánh định. Không phải không có lý do chánh đáng khi các Thiền sư Tàu và Nhật cảnh cáo sự tiến gần có tính cách kiểu thức và lý trí đến kinh nghiệm chân ngộ sáng chói là vô ích... Một vài người giải thích Thiền, người châu Á cũng như người phương Tây, còn hướng dẫn sai lầm độc giả của họ theo một hướng khác nữa. Theo cách thưởng thức kịch, họ đã nhấn mạnh một cách không đáng sự đánh đấm của các sư Tàu thời xưa dù cho họ câu độc giả bằng những trích dẫn giật gân, nghịch lý như “Phải giết Phật” và “Nói được, ba chục gậy! Không nói được, ba chục gậy!”  (“The Three Pillars of Zen”, Đỗ Đình Đồng dịch. “Ba Trụ Thiền”. trang 150-1).
 
Một nghịch lý cuối cùng: Thiền cao siêu như thế nhưng cũng rất đời thường.
 
Laurence G. Boldt áp dụng Thiền vào kinh doanh trong tác phẩm “Zen and the Art of Making a Living, a Practical guide to Creative career design” (Thiền và nghệ thuật kiếm sống, một hướng dẫn thực tiễn cho Thiết kế Sự nghiệp Sáng tạo), dầy 600 trang khổ lớn. Albert Low thì sáng tác cuốn “Zen and Creative Management” (Thiền và Quản trị Sáng tạo”. Vậy Thiến có đặc tính sáng tạo có thể áp dụng trên mọi lãnh vực, không cứ ở các thiền đường. Tôi có một cuốn sách nhan đề là “Zen and the Art of Motorcycle Maintenance: An into Values” (Thiền và Nghệ thuật Bảo trì xe bình bịch: một khảo sát các Giá trị” (xe bình bịch là tiếng Bắc ngày xưa, nay gọi là xe gắn máy hay xe máy dầu), của Robert M. Pirsig không biết cho ai mượn rồi không chịu trả thành ra “sắc tức thị không”.
           
Có một cuốn sách 600 trang liên quan trực tiếp đến đề tài đang thảo luận, mang tựa đề “Thiền: Con đường nghịch lý” của giáo sư Osho (1931-1990), tên thật là Chandra Mohan Jain, còn có những tên khác: Bhagwan Shree Rajneesh, Acharya Rajneesh, tác giả của trên 600 sách, vài nghìn băng âm thanh và vi deo về đề tài tâm linh. Là một guru Ấn Độ, thủ lãnh phong trào Rajneesh, năm 1981 sang Mỹ, các tín đồ bỏ ra $6 triệu mua trang trại "Big Muddy Ranch" gần Antelope, bang Oregon, rộng 65,000 acres, đổi tên là “Rajneeshpuram” (thành phố Rajneesh) từ chỗ đồng không mông quạnh nay sầm uất, có 3,000 cư dân nhưng bị dân địa phương không có cảm tình vì các thành viên phạm nhiều tội, kể cả giết người và bỏ chất salmonella vào thực phẩm của một tiệm ăn khiến 751 người bị nhiễm độc. Năm 1983, Osho, qua thư ký Sheela Silverman, tiên đoán từ 1984 đến 1999 sẽ có những thiên tai khủng khiếp khắp địa cầu. Bị đưa ra tòa vì nhiều tội gian lận, lãnh án tù treo với điều kiện phải đi khỏi nước Mỹ, năm 1998 Osho về Ấn Độ, năm 1990 chết, có tin đồn là do CIA đánh thuốc độc. Đây là một thí dụ về những “ông đạo” lường gạt những người khờ dại cả tin thành cuống tín.
Osho bắt đầu tác phẩm “Thiền: Con đường nghịch lý” của ông bằng câu giao hẹn: “Từ lời tôi bạn có thể bùng cháy, nhưng bạn sẽ không thể nào tìm ra bất kỳ lý thuyết, học thuyết nào. Bạn có thể tìm ra cách sống, nhưng không tìm ra được giáo lý để thuyết giáo. Bạn có thể tìm ra tính cách nổi dậy hay tiêm nhiễm nhưng bạn sẽ không tìm thấy chủ đề cách mạng tổ chức nào... Lời tôi không chỉ là ngọn lửa. Tôi đang đặt thuốc nổ đây đó, chúng sẽ nổ tung trong nhiều thế kỷ. Tôi đang đặt nhiều hơn là cần thiết - tôi chưa bao giờ tính hết cơ hội. Gần như từng câu đều dự định để tạo ra rắc rối cho bất ký ai muốn tổ chức tôn giáo quanh tôi”.
 
Nếu có người tin được lời ông thì cũng là một nghịch lý.  Còn tiếp
                          
                                Nguyễn Trần Ai
 
Chú thích: <*> HT. Thích Mãn Giác khẳng định “Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam.”.
 
      Luồng Gió Mới                   
Luồng gió mới từ đâu thổi đến
Thu Cali man mác gió chiều
Từng chiếc lá đổi màu úa nắng
Ngôn ngữ nào ý tưởng cao siêu
 
Luồng gió mới đánh động tâm thức
Yêu mùa Thu khép kín hồn thơ
Chiếc lá vàng tâm tư lưu luyến
Con đường mòn trải rộng ước mơ…
 
Hướng về trên đỉnh chân không ấy
Hương Thu giao cảm nắng hồng lung linh
Triết lý tử sinh chuyển mình năng động
Lá vàng rụng xuống liễu ngộ chân kinh
 
Luồng gió mới trào lưu thời thượng
Ánh trăng Thu huyền diệu không gian
Biển trăn trở ngữ ngôn thần thoại
Niệm ân tình ai nhặt lá vàng
 
Luồng gió mới đi qua phố thị
Lá Thu vàng về cội hôm nay
Người nghệ sĩ phiêu lưu nhạy cảm
Nhìn cuộc đời như mây trắng bay
 
                             Santa Ana 9-21-2016       
                          
                                 Thanh Trí Cao
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn