Đức Đạt Lai Lạt Ma

09/06/201012:00 SA(Xem: 11102)
Đức Đạt Lai Lạt Ma


Nguyễn Trần Ai

Ngày 15.1.2010 nhân dịp tham dự lễ an vị xá lợi Phật tại Đại Học Khảo Cổ và Cổ Sử thuộc viện đại học Maharaja Sayajirao, Vadodara, tiếu bang Gujarat, Ấn Độ, trong diễn văn khai mạc hội nghị quốc tế 3 ngày về Di Sản Phật Giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định, “Chúng ta không có thể nói rằng một tôn giáo nào là tốt nhất. Tôi là Phật Tử nhưng tôi không có thể nói Phật Giáo là tôn giáo tốt nhất. Điều này tùy thuộc vào nhận thức mỗi người xem những gì tốt nhất cho họ. Chúng ta nên tôn trọng tất cả các tôn giáo”.

 Chắc chắn là Đức Đạt Lai Lạt Ma rất thành thật khi tuyên bố như trên, nhưng chính vì tuyên bố như thế, vô hình chung Ngài đã khẳng định Phật Giáo là tôn giáo tốt nhất bởi vì dường như chỉ có Phật giáo là tôn giáo duy nhất chủ trương tôn trọng tất cả các tôn giáo ngay từ Đức Phật Thích Ca, qua đại vương A Dục xuống tận Đức Đạt Lai Lạt Ma ngày nay.

 Đa số các tôn giáo tự cho là duy nhất đúng. Ả Râp Hồi giáo và Tây phương Kitô giáo giao chiến với nhau, từ 7 cuộc Thập Tự Chinh cho đến nay gây tổn thất nhân mạng và tài sản cho hàng triệu người. Israel Do Thái giáo và Palestine Hồi giáo hàng ngày giết nhau bằng mọi cách. Hai bên tàn sát nhau không gớm tay mà bên nào cũng nhận là “thánh chiến”! Làm gì có thứ “chiến” nào mà “thánh” được. Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo có cùng một ông tổ Abraham, cùng thờ một đấng Jehovah chỉ có khác nhau tên gọi còn thù ghét nhau đến thế huống hồ đối với các tôn giáo khác.

 Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận định: “Các tôn giáo đôi khi là nguồn gốc của các cuộc xung đột hoặc được sử dụng như tấm bình phong cho các nhóm sắc tộc hay dân tộc. Không nên áp đặt tôn giáo của mình đối với người khác nếu chúng ta muốn cổ võ Hòa Bình”.

 Phật giáo cũng có những giáo phái khác nhau nhưng không hề có cuộc tranh chấp bạo động nào giữa các giáo phái. Trong suốt hơn 25 thế kỷ, trải dài khắp năm châu bốn biển, Phật Giáo đã tùy duyên thích ứng với văn hóa, phong tục địa phương tuy vẫn giữ được cốt tủy đạo mà Đấng Bổn Sư đã dạy. Tùy duyên bất biến là thế. Phải tùy duyên mới bất biến được. Chỉ bất biến không thôi nhiều khi bị tiêu diệt như cái cây bị bật rễ. Nguyên tắc quan trọng nhất là không có nguyên tắc nào là bất di bất dịch.

 Trong quyển "Vũ Trụ Trong Một Đơn Nguyên Tử", Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh: “Nếu phân tích khoa học đã biểu thị được một cách thuyết phục rằng những luận điểm nào đó trong Phật giáo là sai, thì chúng ta phải chấp nhận khám phá đó của khoa học và từ bỏ các luận điểm đó”.

 Muốn tùy duyên phải xả chấp, chấp ngã và chấp cảnh.

 Đức Đạt Lai Lạt Ma nói những điều chưa từng thấy một lãnh đạo tôn giáo nào dám nói. Tôi đã đọc ở đâu đó rằng Ngài cho biết đêm ngủ vẫn còn mơ thấy đàn bà nhưng Ngài chợt nhớ mình là sư. Đây không phải là một lời thú tội vì Ngài làm gì có tội. Nhưng nói lên sự thật thầm kín của bản thân như thế phải đạt đến vô ngã thực sự. Thiếu gì người đêm ngủ mộng mị những gì chỉ giữ kín trong lòng không dám thổ lộ cho ai, có khi còn tiếc hùi hụi như chàng Kim Trọng thuở nào, “Bâng khuâng đỉnh giáp non thần, còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng”. Tuy không trần tục nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma rất “người” như chính Ngài xác nhận, “Tôi chỉ là một tu sĩ Phật Giáo bình thường, không hơn, không kém”, không hề đòi hỏi hương hoa, lọng vàng cung nghinh đón rước, vẫn 4 giờ sáng thức giấc ngồi thiền rồi tiếp tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và diễn giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh các đại lễ.
 
Theo tin RFA, ngày 22.2.2010 ngài tuyên bố nếu đa số người Tây Tạng cảm thấy truyền thống Đạt Lai không còn phù hợp nữa thì nên thay đổi truyền thống ấy. Cá nhân Ngài không cảm thấy lấn cấn điều đó. Trước đây Ngài đã khẳng định sẵn sàng thay đổi truyền thống bằng việc tìm người kế vị ngay trong lúc còn sống hoặc chọn một phụ nữ đảm nhận trọng trách này (tuần báo Lan, Feb 26.2010, trg 6).

 Truyền thống mà Ngài đồng ý và khuyến khích hủy bỏ có từ năm 1578 khi vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng phái Hoàng Mạo (Gelupa = Cách Lỗ phái, nghĩa là "tông phái của các hiền nhân") danh hiệu Đạt La Lạt Ma có nghĩa là “Đạo Sư có trí huệ như biển cả” (Huệ Hải), còn được hiểu là Hộ Tín (người bảo vệ đức tin), Pháp vương (vua của Chánh Pháp), Như Ý Châu (ngọc Như Ý), đến năm 1617 từ đời thứ năm, Đạt Lai Lạt Ma kiêm thần quyền và thế quyền Tây Tạng.

 14 đời Đạt Lai Lạt Ma theo thứ tự dưới đây:
 1. Căn-đôn Châu-ba (Gendun Drub: 1391-1474)
 2. Căn-đôn Gia-mục-thố (Gendun Gyatso: 1475-1542)
 3. Toả-lãng Gia-mục-thố (Sonam Gyatso: 1543-1588)
 4. Vinh-đan Gia-mục-thố (Yonten Gyatso: 1589-1616)
 5. La-bốc-tạng Gia-mục-thố (Losang Gyatso: 1617-1682)
 6. Thương-ương Gia-mục-thố (Jamyang Gyatso: 1683-1706)
 7. Cách-tang Gia-mục-thố (Kelsang Gyatso: 1708-1757)
 8. Khương-bạch Gia-mục-thố (Jampel Gyatso: 1758-1804)
 9. Long-đa Gia-mục-thố (Lungtog Gyatso: 1806-1815)
10. Sở-xưng Gia-mục-thố (Tsultrim Gyatso: 1816-1837)
11. Khải-châu Gia-mục-thố (Kedrub Gyatso: 1638-1856)
12. Xưng-lặc Gia-mục-thố (Trinle Gyatso: 1856-1875)
13. Thổ-đan Gia-mục-thố (Tubten Gyatso: 1876-1933)
14. Đăng-châu Gia-mục-thố (Tenzin Gyatso: 1933-nay)

 Các Đạt Lai Lạt Ma được coi là hiện thân của Quán Thế Âm bồ tát và là tái sinh của vị trước. Đương kim Đạt Lai Lạt Ma sinh ngày 6.7.1935 (năm Ất Hợi) tại Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng, tục danh là Lhamo Dhondup.

 Sau khi ngài Đăng Châu Gia Mục Thố viên tịch, năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa, thấy ba chữ Tây Tạng Ah, Ka và Ma hiện lên giữa mặt nước hồ, theo sau là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ. Một phái đoàn do Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, tu viện trưởng Tu viện Sera cầm đầu đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, khi đến làng Amdo, thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, và Lạt-ma Kewtsang cải trang thành người thị giả, vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang một xâu tràng hạt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé 2 tuổi trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và đòi được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho xem nếu chú đoán được ngài là ai. Chú bé trả lời ngay bằng ngôn ngữ địa phương là "Sera aga", nghĩa là "Lạt-Ma ở tu viện Sera". Tiếp theo là một loạt trắc nghiệm để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé nhận ra tất cả và nói: “của tôi, của tôi”. Sau đó chú bé được cải danh là Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso. Đấy là thủ tục tìm kiếm hóa thân của vị Đạt Lai Lạt Ma mới chết để kế vị ngài.

 Theo truyền thống, sau khi được nhìn nhận là hóa thân của vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, Tenzin Gyatso năm 6 tuổi bắt đầu sự nghiệp học vấn bằng các môn học chính như luận lý, văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng, Phạn ngữ, y học, triết học Phật Giáo (chia ra làm năm phần: Bát nhã ba la mật đa, Trung quán, Giới luật, A-tỳ-đạt-ma và Lượng học) và các môn học phụ khác: biện luận, thi ca, âm nhạc, kịch nghệ, thiên văn, văn phạm.
 
Năm 1959, được 25 tuổi ngài hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ Phật học. Ngài được tu học với các đại sư cao cấp nhất của tất cả các bộ phái Phật Giáo lớn có mặt ở Tây Tạng cũng như được truyền thụ lại toàn bộ căn bản giáo lý của các bộ phái khác như Tiểu thừa và Đại thừa. Được hỏi được đào tạo và hành đạo theo bộ phái nào thì ngài đã không ngần ngại cho biết rằng Ngài thuộc về "truyền thống Nalanda".

 Trong việc tu tập phần thực hành cũng không kém quan trọng.

 Từ ngày 11 đến 19.12.1994 tại sân vận động Olympic, Barcelona, Tây Ban Nha, Đức Đạt Lai Lạt Ma chủ trì tuần lễ thuyết pháp và truyền Pháp Mật Tông Kalachakra (Thời Luân) theo truyền thống từ 1027 của Phật Giáo Tây Tạng, có trên 3000 tăng ni và Phật Tử tại gia trên khắp các nước thuộc Châu Âu và Châu Mỹ về dự.

 Có tất cả ba cấp để tập luyện Mật Tông, Nội công, Ngoại Công và Thời Luân. Ngoại công gồm có thiên văn học, chiêm tinh học và toán học. Nội công dạy cấu trúc thân thể con người và hệ thống năng lực. Thời Luân là học hỏi và luyện tập Thiền định theo theo vị thần Kalachakra thật sự và cung điện Mạn Đà La (Mandala) của người đang ngự ở trên. Cung điện Mạn Đà La thường được vẽ bằng bột màu, có lúc được đắp thành mô hình bằng bột và dùng sơn hoặc bột cát muôn màu để vẽ.

 Cung điện Mạn Đà La rất quan trọng trong thời gian và phạm vi truyền pháp vì nó là mục tiêu để cho các hành giả quán tưởng và vị giáo chủ Mật Tông phải đích thân diễn thuyết buổi truyền Pháp. Vị thần thiền định Kalachakra có bốn mặt, hai mươi lăm cánh tay và bốn chân. Khuôn mặt chính của ngài là màu xanh dương, hằn lên nét phẫn nộ và nhe nanh. Khuôn mặt phải màu đỏ, khuôn mặt trái màu trắng và khuôn mặt phía sau là màu vàng, mỗi khuôn mặt có ba mắt. Tám cánh tay bên dưới màu xanh dương, nhóm tay ở giữa màu đỏ và nhóm tay trên cùng là màu trắng. Toàn thân của Ngài màu xanh dương, chân phải màu đỏ, chân trái màu trắng, ngài ôm choàng một người vợ màu vàng với bốn mặt và tám tay.

 Buổi lễ truyền pháp Kalachakra kéo dài ba ngày. Ngày đầu tiên chuẩn bị cho nghi thức, trong suốt khoảng thời gian này dùng để giải thích những điều cần làm trước khi tập luyện Mật Tông. Đoạn Trừ là cách giác ngộ của bồ đề tâm và phải hiểu đúng nghĩa của vô tri. Trong suốt ngày đầu tiên tất cả Phật tử chưa được phép bước vào Mạn Đà La. Trong thời gian chuẩn bị nghi lễ, một người đại diện cho toàn thể các môn sinh, sẽ tung đũa trên một cái khay đặc biệt, nếu chiếc đũa rơi khỏi khay ba lần, toàn bộ đệ tử sẽ không được truyền pháp vào lúc đó.

 Buổi truyền pháp thứ nhì và ngày kế tiếp là lễ truyền pháp chính thức gồm bảy phần. Được bắt đầu khi toàn bộ đệ tử được phép vào cung điện Mạn Đà La xuyên qua vị thần Kalachakra và sự hiện hữu của vị thần nữ. Lúc đó hành giả là đứa trẻ ra đời trong cung điện Kalachakra, vị Lạt Ma nâng niu hắn như một người Mẹ, chuẩn bị cho sự tỉnh thức chín mùi của hắn. Đầu tiên nước sẽ được chú nguyện và hắn được tắm rửa như tắm rửa cho trẻ sơ sinh. Việc thứ hai là chú nguyện cho các vật trang sức trên đầu, gieo những hạt giống vào giòng trí tuệ của hắn để phát triển hiển lộ hào quang của Đức Phật, nghi lễ này giống như lần đầu tiên cạo tóc cho hài nhi. Việc thứ ba là chú nguyện vào khăn bịt mắt, việc này giống như gieo hạt giống cho vùng hào quang trên đầu, và cũng giống như xâu tai và đeo nữ trang lần đầu tiên cho hài nhi. Việc thứ tư là chú nguyện trong chuông và sau đó sẽ phát Phật ngôn. Tiếng chuông ngân giống như những lời bập bẹ đầu tiên của trẻ. Việc thứ năm là truyền thụ bằng hành động, ủy thác cho hành giả những gì cần thiết để tự luyện tập. Nếu chỉ vài môn đệ thì lúc này mọi người sẽ được trang phục với y phục bằng xương, cầm đinh ba, nếu không có thì họ phải tưởng tượng là đang cầm vật đó. Vào lúc này giống như đứa trẻ bắt đầu chập chững hành động. Việc thứ sáu, trong số các việc truyền thụ là chọn Mật danh, trong thời gian này hành giả sẽ nhận tên của một trong số năm vị Phật Thiền định. Giống như tên gọi của một hài nhi, hành giả sẽ đạt được sự giác ngộ nhân danh một vị Phật làm phương tiện. Việc cuối cùng là phép truyền thụ gồm hai phần: lễ truyền thụ chính thức và nghi thức liên quan đến buổi lễ, việc này giống như bài vỡ lòng tập đọc của thiếu nhi.
 
Trên đây là một thí dụ cho thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma phải tinh thông mọi pháp môn kế cả những pháp môn cao nhất. (còn tiếp)

Nguyễn Trần Ai
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn