Thiền và Thi Ca, Thi Kệ

15/06/201012:00 SA(Xem: 6985)
Thiền và Thi Ca, Thi Kệ


Như Hùng

Có người nói thi nhân là những thiên thần bị đọa xuống trần gian, nên phải làm thơ để mang yêu thương, ray rứt đến cho đời. Thi nhân là kẻ cố gắng khám phá ra những gì đang bị che dấu, khuất lấp trong thực tại, những gì yên ngũ bấy lâu được thi nhân khơi dậy, trang trãi cho đời một khuôn mặt, một cách nhìn mới lạ. Thi sỹ đầy quyền năng sáng tạo, dệt nên thơ bằng đôi tay phù phép của mình, bằng cách vật lên, níu nó lại gần vừa tầm nhìn của đôi mắt, thổi vào đó một làn hơi, thêm vào đó một chút linh hồn, một sự sống, để nó vổ cánh tung bay, mang đến cho đời những sắc hương, hay nhớ thương đến độ dư thừa.
 
Dòng sông không là dòng sông, với nước lững lờ trôi về muôn lối, với những chiều nhớ thương đưa tiễn, mà còn là bến đò tiễn biệt cho kẻ ở người đi, cho vấn vương, sầu nhớ quyện lại đâu đây, cho nỗi buồn dai dẳng phủ kín không gian xa vắng. Đôi mắt của em không còn là đôi mắt "u uẩn chiều nhớ thương" mà còn là mặt nước hồ cho thuyền anh ghé bến.

"Mắt em là một dòng sông
Thuyền anh bơi lội trong vòng mắt em"

Nụ hôn đầu đời của tình yêu, không những nóng bỏng đê mê, để lại dấu ấn trong tâm hồn, mà còn là một thứ âm thanh vang vang vô tận trên bến bờ sinh tử.

 "Lần đầu ta ghé môi hôn
 Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang"
 (Trần Dạ Từ)

Không phải thi sỹ chỉ mang bấy nhiêu tâm sự đến cho ta, thỉnh thoảng còn mang những nỗi u hoài, giá buốt, khổ đau chồng chất lên nhau nữa.
 
 "Sầu đong càng lắc càng đầy
 Ba thu dọn lại một ngày dài ghê"
 (Nguyễn Du)

Có phải đây là bộ mặt đích thực của cuộc đời, mà trong những lần dong ruoåi cùng tử sinh, nó đã gắn trọn vào trong tận cùng tâm thức, bám theo ta trên mọi lối đi về? Thỉnh thoảng đâu đó trong ta một nỗi xót xa, một chút nhớ về, khi bóng hoàng hôn đổ xuống, khi nhớ dâng chồng chất, ta cứ mãi làm kẻ lang thang lê bước, cắm đầu theo mưa buồn nắng nhớ, theo được mất hơn thua. Rồi những lúc thả hồn cho gió mây gặm nhấm, cho kẻ ở người đi, cho sầu mộng đong đầy, trên mọi nẽo đi về của biệt ly thương nhớ, cho tử sinh tìm về cố quận. Nhiều lúc ta cảm thấy cuộc đời trở nên vô vị chán chường, đau khổ, âu lo theo đó lớn dần, dâng cao khiến ta choáng ngợp, hụt haãng, trong sự phủ vây của tứ bề cô quạnh.

Cái có với cái không, cái còn với cái mất, cái danh với cái lợi, cái sinh với cái tử, như một bản hoà tấu quyện vào trong tận cùng tâm thức, khiến ta cứ thế mà nổi trôi mà hụt haãng. Thỉnh thoảng trong ta có một năng lực nào đó muốn đẩy tung nó ra thì nó lại càng bám vào, liên tục ta bị đục khoét, đào mòn không lời giải thích hay tiếc thương, dù ta thừa biết đây chỉ là sản phẩm của tâm ý, suy tưởng. Ta chỉ có thể hất tung nó ra, khi nào trông thấy trọn vẹn được bản thể không thật của nó như một sự thế vào. Nhưng biết khi nào và bằng cách nào ta khám phá ra được? Không lẽ ta cứ mãi lê lết, rão bước trong sự bất lực, mờ ảo của nhân sinh, trong sự thờ ơ câm nín, và trong nổi quaën đau, phủ phàng của vô thường thổn thức?

Ta thử đọc hai bài thơ Sơn Phòng Mạn Hứng, của thiền sư Trúc Lâm Trần Nhân Tông, để thấy sự phi thường ở những con người vượt thoát.
 
 Ai trói buộc chi tìm giải thoát?
 Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên
 Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão
 Như trước, am mây chốn toạ thiền.

 Phải trái rụng theo hoa buổi sớm
 Lợi danh lạnh với trận mưa đêm
 Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng
 Xuân cỗi còn dư một tiếng chim.
 
 (Đổ Văn Hỷ, dịch Thơ Văn Lý Trần tập 2)

(Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát
Bất phàm, hà tất mịch thần tiên
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.)

(Thi phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.)

Bước đi của con người vốn là bước đi trong cô tịch, hoang liêu trên bến bờ sinh tử, lộ trình nào có bước chân con người đi qua đều in dấu trên từng tâm khảm. Thơ được kể như dòng nước tuơi mát trên lộ trình đó, và hành trình nào cũng đong đầy những ngang trái, bẽ bàng, cô liêu hay hoa thơm cỏ lạ, đều tùy vào sự khởi đầu hay chung cuộc cho từng bước đi. Đi trong hoàng hôn tái tê, đi trong bình minh ấm áp, hay đi trên lối về của muôn hoa, không còn nằm ở chổ đi, mà đi là gì, làm gì và tại sao? Một bài thơ tuyệt diêu, một tâm thức bùng vỡ đạt đến đỉnh cao, chắc hẳn không đi qua chặng đường suy luận của ý thức sai biệt, cùa có không, mà từ sự tỉnh thức trong mọi vận hành hoạt dụng, vượt lên trên cõi thông tục, cõi ấy là tâm giác ngộ.

Giác ngộ thân tâm vốn lặng yên
Thần thông các tướng biến hiện tiền
Hữu vi vô vi từ đây có
Thế giới hà sa không thể lường

Tuy nhiên đầy khắp cõi hư không
Mỗi mỗi xem ra chẳng tướng hình
Muôn đời ngàn đời nào sánh được
Chốn chốn nơi nơi thường rạng ngời.

 Thiền Sư Cứu Chỉ
 (T.T. Thích Thanh Từ, dịch)

(Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch
Thần thông biến hoá hiện chư tướng
Hữu vi vô vi tùng thử xuất
Hà sa thế giới bất khả lượng

Tuy nhiên biến mãn hư không giới
Nhất nhất quan lai một hình tượng
Thiên cổ vạn cổ nan tỷ huống
Giới giới xứ xứ thường lãng lãng.)

Thiền sư, cũng từ những cánh cửa mầu nhiệm của thơ, nâng quan cảm cuả mình trở thành sự thể, sự đồng cảm của tâm thức, sống và thở như chính nó, trong sự chiêm nghiệm mãnh liệt của tỉnh thức, để từ đó mở ra cái lẽ biến dịch vô thường của tạo hoá, bằng lời cảnh tỉnh sáng soi thực ngộ. Nhắn gởi đến con người đang sống trong thế giới mộng mị, thống khổ phủ vây. Bên cạnh sự biến đổi của vô thường khổ đau ấy, vẫn còn ý nghĩa đích thực của chân thường, của an lạc của giác ngộ. Không hất tung xô đẩy chuyển hoá cái nầy thì làm sao cái kia hiển lộ, không thong dong, tự tại, vượt lên buông bỏ, thoát ra, thì làm sao trông thấy bản thể như thật của muôn loài?

Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngũ yên
Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.

 Thiền sư Trúc Lâm Trần Nhân Tông
 (Huệ Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 trang 510)
 
 
(Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền)

Thơ, ý nghĩa của sự sống, vận dụng tất cả những hình tượng biến thành biểu tượng, đưa quan cảm tìm tới đích để liên tục gõ nhịp. Đây không thuộc phạm trù tỷ giảo giữa biểu tượng hoặc cảm xúc, bởi lẽ hai thể đó không bao giờ tách rời ra để tồn tại, nó quyện lại với nhau, như hoa với hương, như bóng với hình. Nó là cái đích mà thơ cần phải đạt đến, chứ không phải chặng đường tìm đến, vì khi tìm ta đã lạc lối hoang sơ, đi vào mê lộ, không khác gì khi ta quay lưng lại với đời sống để nhìn vào một lối duy nhất, trong khi cuộc đời vẫn tiếp tục vận hành ở những dạng thái và lối mòn khác nhau. Làm sao ta có thể đưa quan cảm thoát ra, để dệt thành lời thơ trong sự bay bổng tuyệt diệu của tâm thức?

Có phải thơ là sự chắp nối của nghệ thuật hoang tưởng, và là sự biến dạng cùng quẩn, nào đó của đời sống, hay những tư tưởng nỗi loạn bí lối, và có phải đó là sự đè nén, trá hình về một thế giới hình dung tưởng? Có thể những điều nầy tạo nên sự có mặt của thơ, tuy nhiên trên tất cả thơ là vùng đất nằm thâm sâu trong tâm ý, khi nào đạt đến trạng thái tuyệt cùng thì nàng thơ mới chợt trổi dậy, làm cuộc lên đường đi đến bản thể vô cùng.

Thi ca vốn không có biên giới, không phạm trù ngôn ngữ, chỉ có quyền năng của thi nhân thoát ra bay bổng trên từng hiện hữu, biến tiểu ngã thành đại ngã, biến cái riêng của mình thành chung của vạn hữu, biến cảm xúc của mình thành chất liệu muôn thơ. Thơ thiền khởi đi trong sự thể nhập vô cùng nào đó của tâm cảnh, vượt ra ngoài thời không mang mang về nơi có không, vô tận.
 
 Xoay mình một nén vượt ra lồng
 Muôn sự đều không, nhập mắt không
 Ba cõi thêng thang, lòng sáng rỡ
 Trăng Tây vừa lặn, nhú vầng Đông.
 
 Tuệ Trung Thượng Sỹ
 (Đào Phương Bình, dịch)

(Phiên thân nhất trịch xuất phần lung
Vạn sự đô lô nhập nhãn không
Tam giới mang mang tâm liễu liễu
Nguyệt hoa Tây một nhật thăng Đông)

Thiền sư vượt lên tất cả, truy tìm ra căn nguyên cấu tạo của muôn vật, đưa tâm thức thoát ra ngoài tử sinh, phiền não, hạnh phúc, khổ đau. Thong dong tự tại đi vào cuộc đời vô thường, biến hiện như đi vào cõi thơ mênh mông sâu thẳm. Thiền giúp ta mở tung từng hiện thể, khiến ta tỉnh thức, thoát ly ra ngoài thực trạng, buông bỏ tất cả để không bận lòng, bước vào vườn hoa Thiền với muôn ngàn veû đẹp, linh hiện, hoà nhập cùng đất trời, trong sự tuyệt diệu của muôn hoa.

Thân như tường vách đã lung lay
Đau đáu người đời luống xót thay
Nếu đạt tâm không, không tướng sắc
Sắc không ẩn hiện mặc vần xoay.

 Viên Chiếu Thiền Sư
 (T.T. Thích Thanh Từ, dịch)
 
(Thân như tường bích dĩ đồi thì
Cử thế thông thông thục bất bi
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiển nhậm suy di.)

Năng lực của thiền còn giúp cho ta mở ra con mắt Trí Huệ, một khi có được con mắt nầy chiếu rọi, tất cả đều phải phơi bày, hiện nguyên hình bản thể như thật. Từ năng lực tàn phá của thời gian đến những hiển hiện phi thực ở trong tận cùng tâm ý, từ những lôi kéo chạy theo mộng huyển tử sinh, đến những thể nhập trong vô cùng, đều nhờ con mắt huệ nầy giúp ta bừng lên ánh sáng tuyệt luân, soi thẳng chọc thủng vào màng đen của vô minh, trong tức khắc của sát na nào đó và ta bùng lên giác ngộ. Công năng của thiền còn mang đến cho ta sự hạnh phúc an lạc, cho dù tác tạo ta vẫn thong dong trên mọi lối đi về của sinh tử, một cuộc sống không có khởi đầu hay kết thúc, bay bổng ra ngoài suy tư luận bàn nhân thế, đâu đó chỉ có tự tại trong sự tái sinh và chuyển tiếp, trong sự linh hiện vượt thoát ra ngoài càn khôn.
 
Đã có gì cũng có
Khi không gì cũng không
Khi có không nhào xuống
Mặt trời mọc đỏ hồng.

 Tông Diễn Thiền Sư.
 (Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận 2, trang 174)

(Ưng hữu vạn duyên hữu
Tùy vô nhất thiết vô
Hữu vô câu bất lập
Nhật cảnh bổn đương bô).

Thiền sư, từ những âm hưởng mầu nhiệm nào đó của thi ca, thôi thúc gõ nhịp liên tục để đánh thức thực taị, thăng hoa tâm thức của mình thành sự thể nhập, sống và thở như chính nó, từ đó hé mở nên cái lẽ biến dịch vô thường của tạo hoá, con nguời, đau khổ, haïnh phúc, mê mờ và giác ngộ.

Pháp cũng như vô pháp
Không hữu cũng không không
Nếu đạt được lẽ ấy
Chúng sanh với Phật đồng

Trăng Lăng Già lặng chiếu
Thuyền vượt biển trống không
Không cũng không như có
Định tuệ chiếu vô cùng.
 
 Thiền Sư Huệ Sinh
 (Nguyễn Lang, dịch Việt Nam Phật Giáo Sử Luận 1, trang 126)

(Pháp bản như vô pháp
Phi hữu diệc phi không
Nhược nhân tri thử pháp
Chúng sanh dữ Phật đồng

Tịch tịch Lăng Già nguyệt
Không không độ hải chu
Tri không không giác hữu
Tam muội nhiệm thông châu.)

Có những lúc ta phải thức khuya dậy sớm không nguû nghỉ, bắt nhịp theo tâm thức của mình, thơ là điều khởi nên của những bắt nhịp đó, từ những âm thanh màu sắc, từ những noåi trôi biến dạng, từ những đẹp xấu, thơ mộng, hay thương đau. Nó tựa như dòng nước len lõi qua từng ngõ ngách, thấm sâu vào từng kẽ hỡ để trưởng dưỡng nuôi sống muôn loài. Tất cả quyện lại với nhau, đẩy xô, hài hoà với nhau và thơ chợt trỗi dậy cất nên lời ca trong sự thơ mộng, cô liêu, hay những ngang trái đong đầy, điều này hoàn toàn nằm sẵn trong tâm thức của thi nhân trước khi thơ được cất bước hình thành. Bài thơ được kể như hay, mang nhiều ý nghiã bài thơ đứng trước hai đầu, hai nỗi của hạnh phúc hay thương đau, diễn tả trọn vẹn thực thể của hai vấn đề trên, không những chỉ có cảm giác, thức giác mà còn vận dụng đến tâm giác. Đẩy sự rung động không phải chỉ ở trong rung động, mà hoá thân bay bổng ra ngoài, để thi nhân còn cơ hội xúc tác ngắm nhìn nâng niu, trước khi lời thơ cất lên ñi về nơi vô
tận.

Thi nhân là kẻ rung động trước sự rung động của con người, nhưng là kẻ đi sau của mỗi lời thơ gợi nhớ. Thơ không chỉ là những dòng chữ, những lời ca, những điệp khúc, những dệt nên, mà là một linh hồn ẩn chứa, gởi gấm, những yêu thương chan hoà cho con người và muôn vật.

Sự gặp gỡ giữa thiền sư và thi sỹ có chung một điểm tương đồng, đó là khơi dậy sự ngũ say của muôn vật, bằng những rung động trăn trở của mình, và hình thành lời thơ là cơn vượt thoát, chấn động tâm não. Quá trình bắt nhịp tạo nên thơ, đều bước qua ngưỡng cửa màu sắc âm thanh, của thời không, cuả thiên nhiên, đối tượng, con người, cuả sinh tử, giác ngộ. Từ đó, đắm chìm trong tư duy, để bắt nhịp đi vào cõi thơ nơi vĩnh cửu, để hoa giác ngộ nở rộ trên lối đi về. Ở đây thơ không những được hiểu như năng lực sáng tạo, mà còn như cảm quan bùng vỡ tuôn trào, đồng lúc với "gảy mỗ " một thuật ngữ quan trọng trong thiền, một khi sự vât nở tung hiển lộ tròn đầy đồng nhất. Nó không còn nằm ở biên giới giữa cái này với cái kia, giữa đối tượng và con người mà trở thành hợp thể vô phân nguyên vị, không có chủ thể, khách thể, tâm cảnh, sắc không.

Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không
Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng
Chúa xuân nay đã thành quen mặt
Nệm cỏ ngồi yên ngó rụng hồng.
 
 Thiền Sư Trúc Lâm Trần Nhân Tông
 (Ngô Tất Tố, dịch)

(Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng điện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng).
 
Ngoài những sai sử, tác động, dệt nên trên lối mòn của ý thức khi nhận định về thơ, khó có dịp ta tìm ra ý nghĩa chung cuộc đúng mức, bởi lẽ có mấy ai thật sự rung động, bằng khối óc con tim, bằng sự vượt thoát trên từng hiện hữu, như thi nhân đã từng rung động và nếu có chắc gì hiểu trọn vẹn được ý thơ? Tuy vậy chỗ đứng của thi nhân vẫn tuỳ thuộc vào mức độ cảm xúc trong tâm hồn, sự thức tỉnh, giác ngộ trong tâm ý, đó cũng là thước đo khi thơ hiện hình, ý có dồi dào thơ mới đến đích, tư duy có chín mùi hồn thơ mới thật sự sống dậy. Thơ là sự traûi bày dệt nên từ cảm xúc, ta không thể dùng ý thức năng động sai biệt để chuyên chở, như thế hồn thơ sẽ trở nên tức tưởi, đóng khung, nhốt kín theo chiều hướng sai sử, tạo dựng nào đó trong ta. Tuy vậy, ta chỉ là kẻ lần theo dấu vết cảm xúc của thi nhân để bắt nhịp thưởng ngoạn, khi nào chưa biến quan cảm của mình trở thành cảm quan của thi nhân, chưa thể nhập vào vô cùng, chưa vượt thoát ra ngoài biến động noåi trôi, ta vẫn là kẻ lang thang đứng ngoài cuộc chơi, đưa tiển chính mình về nơi vô tận của có không.
 
Muôn pháp về không, không thể nương
Chơn như lặng lẽ hiện tỏ tường
Thấu tột nguồn tâm không chổ chỉ
Nước tâm bóng nguyệt bặt nghĩ lường.

 Tịnh Giới Thiền Sư
 (T.T. Thích Thanh Từ, dịch)

(Vạn pháp qui không vô khả y
Quy tịch chơn như mục tiền ky
Đạt ngộ tâm viên vô sở chỉ
Thủy tâm thủy nguyệt dẫn tâm nghi)

Thi ca ẩn tàng và có mặt trong tất cả mọi sinh thể, dù lặng yên như gỗ đá, hay phơi bày vẻ đẹp trước muôn hoa, nó ở đó chôn mình trong hố thẳm hoang sơ, hay lặng lẽ bồng bềnh theo mây trời lãng đãng. Tất cả đựơc nhà thơ vực dậy, trao cho nó một sức sống, thế là nó bùng lên voã cánh tung bay mang hương sắc đến cho đời. Điều khó là làm sao cho nó thức dậy mà không gây thương tổn nào trong tâm thức, và nó trở mình như thế nào trong ý nghĩa cùng tuyệt? Đây là chặng đường gần giống với thiền, nhằm đánh thức cái tâm giác ngộ tàng chứa trong mỗi chúng ta, nhưng không gây nên sự xung đột, chiến tranh, khủng hoảng tâm lý. Dĩ nhiên cung cách khơi dậy tùy thuộc vào những thôi thúc, những cưu mang, ẩn chứa, thăng hoa, của thi sỹ mà thơ mang những âm hưởng khác nhau. Chặng đường của có có, không không, phiền não và niết bàn, khổ đau và hạnh phúc, tất cả rồi sẽ như " bóng nguyệt lòng sông".

Có thì có tự mảy may
Không thì vũ trụ này cũng không
Có không: bóng nguyệt lòng sông
Cả hai tuy vậy chẳng không chút nào

 Thiền Sư Đạo Hạnh
 (Nguyễn Lang, dịch Việt Nam Phật Giáo
 Sử Luận 1,trang 127)

(Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không).

(Còn tiếp)

Như Hùng


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn