Ý nghĩa tụng và đọc kinh - Đức Hạnh

25/09/201012:00 SA(Xem: 10726)
Ý nghĩa tụng và đọc kinh - Đức Hạnh



Ý nghĩa tụng và đọc kinh




 Cau_Nguyen_-_Praying-content Tụng kinh và đọc kinh, cả hai đều phải sử dụng tâm ý và con mắt nhìn vào cuốn kinh ở hai trường hợp: cầu nguyện cúng dường và nghiên cứu học hỏi lý nghĩa để biết cách tu tập. Do vậy ở lãnh vực cầu nguyện cúng dường gọi là tụng. Kinh được tụng trong việc cầu nguyện là những thứ kinh bộ, như Địa Tạng, Pháp Hoa, Di Đà, v.v… và những kinh chú Đà La Ni, các bài Sám nguyện… Nếu thuộc lòng, không nhìn vào cuốn kinh, ngược lại phải nhìn vào kinh.



Ở lãnh vực nghiên cứu học hỏi gọi là đọc, cho nên trạng thái đọc được thong thả thoải mái, không gò bó, còn trạng thái tụng là phải trang nghiêm, thân và tâm đồng nhất an trú trong chánh niệm thanh tịnh là năng lực có giao cảm lên chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền… Vì vậy mà thái độ tụng là thái độ tâm ý thiết tha mong cầu chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền cứu bạt chư vong linh được ra khỏi các chốn u minh tăm tối, gia trì cho bản thân mình hay quyến thuộc, tha nhân được an bình, thoát khỏi tai ách, khổ nạn, v.v… Còn thái độ đọc kinh sách Phật pháp là thái độ học hỏi có mong muốn sao cho được liễu ngộ lý nghĩa Phật pháp. Sự liễu ngộ Phật pháp gọi là tri đạo, tức là được thấy đạo để tu hành, mà tu hành đúng đạo ắt sẽ đạt đạo.



Năng lực làm cho tâm người Phật tử thấy được đạo để hành một cách chánh đạo ở mọi phương diện, trong đó Phật sự, phụng sự đạo pháp đúng đạo, là do tâm có trí tuệ. Được có Trí Tuệ là do tâm có Định gọi là Định Tuệ, hai thứ này ắt phải được có nơi người Phật tử. Tâm có định là do tụng kinh và giữ giới luật, gọi là kinh luật song hành, vì vậy tụng kinh là một trong các cách đưa tâm vào định. Cho nên trong ba Tạng Kinh, Luật và Luận, Kinh Luật được biểu thị cho Thiền định, còn Luận (luận giảng Phật pháp) được biểu thị cho Trí tuệ. Từ đây cho ta thấy rằng đọc hay học các thứ sách giảng luận Phật pháp là điều ắt phải có đối với hàng Phật tử.



Kết luận: Đọc những thứ kinh, sách báo giảng luận Phật học, là nhằm vào mục đích nghiên cứu, học hỏi khế lý trong đó để biết cách tu tập mà chứng đắc quả vị Duyên giác.



Tụng những thứ kinh, kệ, thần chú Đà La Ni, Sám văn, là nhắm vào các mục tiêu cầu nguyện về bình an, siêu thoát, sám hối, cúng thí, do vậy tụng bằng tâm hơn là thân miệng.



Để tỏ ngộ thêm ý nghĩa tụng kinh, tụng kệ, bái sám qua lời kinh văn nhận định sau đây:


“Kinh nói: cái thể của giáo pháp chân thật ở phương này, nó thanh tịnh ở tại tiếng nghe. Cho nên, nếu mượn cảnh để nhiếp tâm, thì dùng âm thanh là tốt nhất. Hoặc tụng kinh, trì chú, bái sám, hay xướng tán, tụng kệ, đều là dùng âm thanh mà làm Phật sự (cầu an, cầu siêu… ) Văn tự tuy được tuyên thuyết từ miệng mà công hiệu chính thật đạt được nơi tâm, cho nên tiếng khánh, tiếng mõ đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa; mong rằng chớ nên nhìn một cách cạn cợt”. (Giáo khoa Phật học – Cư sĩ Hạnh Cơ – trang 103)



Chú giải:


Chữ "Tụng", tiếng Phạn “già đà” dịch là tụng hoặc “kệ”. Kệ thường được gọi là câu kệ. Nhiều câu góp lại thành bài kệ. Câu kệ có khi 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ hoặc 7 chữ, do người phóng tác lại yếu nghĩa của bài kinh, đoạn kinh trong phẩm kinh, luận giảng có tính cách tán thán, tôn kính lên chư Phật, Bồ Tát, chư vị tổ sư và để cho dễ nhớ yếu nghĩa. Cho nên bài kệ không hạn định 4 câu, có thể hai ba chục câu. Điển hình rõ nét trong Kinh Pháp Hoa, ở mỗi phẩm như vậy đều có bài kệ dài hoặc ngắn do các Bồ Tát Xá Lợi Phất, Di Lặc, Văn Thù, A Nhã Kiều Trần Như v.v… và kể cả Đức Thế Tôn tóm gọn yếu nghĩa bài pháp thoại Phật vừa nói xong. Chẳng hạn các câu: “khi ấy ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng. Lúc bấy giờ Ma Ha Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng, v.v…



Vì thế cho nên nói đến Kệ là nói đến Tụng, nói đến Tụng là nói đến Kệ. Chữ Kệ thường đi với chữ Kinh, gọi là Kinh Kệ, vì đó là lời toát yếu của các bài kinh, lời tán thán lên chư Phật, Bồ Tát. Từ đây cho ta thấy rằng: riêng bộ kinh Pháp Hoa, có cả đọc và tụng. Đọc là đọc thầm hay đọc ra tiếng, không chuông mõ hay có chuông mõ. Đọc ra tiếng hơn là đọc thầm, vì đọc thầm dễ bị hôn trầm (buồn ngủ). Khi đến những bài kệ, thì tụng ra tiếng được đi cùng với tiếng mõ, tiếng chuông. Đến những đoạn pháp thoại, thì lại đọc. Việc đọc và tụng kinh Pháp Hoa như vậy, được chư tôn đức Việt Nam áp dụng trong mấy thập niên trước đây, vì thường thường quý ngài tụng, đọc một mình. Ngày nay, kinh Pháp Hoa được nhiều người tụng chung, do vậy tất cả bài pháp thoại, bài kệ được mọi người tụng luôn một thể từ đầu phẩm đến cuối phẩm.



Đức Hạnh


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn