Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông

06/11/201012:00 SA(Xem: 7195)
Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông


Tư Tưởng Thiền Học Trần Thái Tông


Như Hùng

Ông vua đầu tiên của nhà Trần và cũng là một thiền sư cư sỹ, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) (1218-1277) đã để lại một sự nghiệp chính trị, một dòng văn học bất hủ, đến bây giờ vẫn mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường trong đêm dài tăm tối, cho những ai tìm phương vượt thoát, lộ trình cho những ai muốn đưa dân tộc tìm tới đỉnh cao của nhân bản và an lạc. Trần Thái Tông được kể như một ông vua tài giỏi, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu cả hai phương diện chính trị và tâm linh, nhưng cũng là một ông vua mang nhiều đắng cay ngang trái trong sự nghiệp chính trị. Cũng có thể những điều ấy là chất liệu xúc tác, nuôi dưỡng để Trần Thái Tông trở thành minh quân, một thiền sư lỗi lạc.

 

Trần Thái Tông từ bỏ ngôi vua, âm thầm lên núi Yên Tử để đi tu cầu thành Phật, nhưng bằng vào câu nói của Trúc Lâm thiền sư " Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta" khiến tất cả mọi cơ năng sụp đổ, mọi phiền lụy vỡ tung, nhạt nhòa. Phải chăng câu nói của Trúc Lâm thiền sư như môt công án tác động, đánh thức, khiến Trần Thái Tông từ một người với đầy ưu phiền, giờ đây bỗng chốc thức tỉnh, trút bỏ mọi ngang trái, khổ đau? Nếu không có Trúc Lâm Quốc Sư, hẳn đã không có Trần Thái Tông với tâm linh cao vút, tư tưởng giác ngộ siêu việt, với sự nghiêp chính trị mang lại thinh vượng cho Dân Tộc, và đem đến dòng văn học Thiền sáng chói trong lịch sử Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Nhờ kết hợp, phát huy ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường, trở thành thiền phái Trúc Lâm, thiền phái duy nhất đời nhà Trần, một thiền phái nhập thế mang đậm nét Dân Tộc, dấn thân đi vào cuộc đời, chuyển hóa phiền não, khổ đau bằng con đường hành động tích cực không xa lánh. Phụng sự chúng sanh làm sự nghiệp giác ngộ, giải thoát, ở ngay trong cuộc đời trôi nỗi, biến động nầy .

 

 Tư tưởng Trần Thái Tông vẫn mãi rực sáng trên bầu trời tâm linh, hình bóng ông ngã dài theo từng bước vươn lên đi tới của dân tộc. Công ơn của ông vô cùng to lớn.

 

Bên cạnh sự thành tựu của ông, hai nhân vật gây ảnh hưởng rất lớn mà ta không thể không nhắc đến:

- Trần Thủ Độ (1194-1264)

 

Người có công sáng lập ra nhà Trần, mệnh danh kẻ uy quyền và cũng là nhà tham mưu đầy chiến lược.

 

" Người ta chỉ biết ca tụng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong hai trận đánh giặc Mông Cổ (1284-1288), nhưng chính người đã tạo ra bậc cứu quốc anh hùng ấy là Trần Thủ Độ thì hậu thế đã lảng quên đi. Cả đến câu bất hủ " Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo" Độ nói cùng vua Trần Thái Tông hồi năm Đinh Tỵ (1257) lúc tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai đem quân sang xâm phạm lãnh thổ nước Nam, người đời cũng ít khi nhắc đến".

 

Vào năm Thái Tông 20 tuổi, Trần Thủ Độ bắt buộc ông, phế hoàng hậu Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) để cưới người chị của Chiêu Thánh là Thuận Thiên, vốn là vợ của anh mình Trần Liễu, lúc nầy đã mang thai để phong làm Hoàng Hậu. Từ đó đưa đến cuộc nổi loạn của Trần Liễu, khiến Thái Tông lâm vào hoàn cảnh bế tắc, oan khiên, khó lòng thoát ra được, cho dù ông kịch liệt phản đối. Bởi lẽ mọi quyền hành đều nằm trong tay Trần Thủ Độ, vừa là Thái Sư vừa là chú ruột của mình, người có công đào tạo và dạy dỗ vua từ thuở nhỏ. Thái Tông từ bỏ cương vị của một quân vương, tìm đến núi rừng Yên Tử để ẩn tu . Nhưng vì Trần Thủ Độ cùng quần thần tìm đến, bắt buộc ông phải trở về trị quốc. Khi tìm gặp nhà vua ở núi Yên Tử, những lời thống thiết của ông tâu với nhà vua .

 

 "Thần nhận sự uỷ thác của tiên quân, tôn phụng bệ hạ làm chúa tể dân thần. Lòng dân kính yêu trông đợi bệ hạ chẳng khác nào con nhỏ quyến luyến mẹ cha. Huống chi các cố lão trong triều ngày nay chẳng một ai không là bề tôi thân thuộc, chúng dân sỹ thứ chẳng người nào không vui vẽ phục tòng. Cho đến đứa trẻ lên bảy cũng biết bệ hạ là bậc cha mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời trăng trối bên tai còn đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng, để theo đuổi cái chí riêng mình. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu chỉ để lời nói suông lại cho đời sau, sao bằng đem thân mình làm gương trước cho thiên hạ. Nhược bằng bệ hạ không nghĩ lại thì chúng thần và người trong nước xin cùng chết ngay hôm nay, quyết không trở về nữa." Nguyễn Đức Vân _ Băng Thanh dịch, trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thơ Văn Lý Trần tập 2, trang 29

 

Lời của Trần Thủ Độ không chỉ lời khuyên, mà còn là triết lý hành xử cho bậc đế vương. Nếu không có Trần Thủ Độ thì không có nhà Trần, người có công đẩy lùi hai cuộc tấn công của quân Mông Cổ. Một đế quốc mà vó ngựa xâm lăng đã thống trị gần hết các châu lục, nhưng đã bại dưới tài dũng lược của Trần Thủ Độ, của Trần Thái Tông, cùng tướng sĩ và quân dân nước Việt. Một Quốc sư Trúc Lâm khai mở Trần Thái Tông trong lãnh vực tâm linh, trị quốc. Một Trần Thủ Độ trong lãnh vực chính trị, an dân. Nếu luận về công và tội của Trần Thủ Độ, cho dù khách quan vô tư, ta cũng khó lòng đánh giá đúng mức về ông, không phải việc ông có lỗi với người nầy, có tội với người kia, có công với nhà Trần có tội với nhà Lý, mà trên hết là những đóng góp dài lâu của ông, cho dân tộc cho hậu thế. Ông có những lý lẽ và quyết định của riêng ông, nhờ có ông mà dân Việt không đắm chìm trong nô lệ. Ý thức điều đó, ông quyết tâm cải tổ lại xã hội về nhiều lãnh vực như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn học, làm lợi ích cho quốc gia, dân tộc.

 

Lịch sử từng chứng minh, khi triều đại nầy lên cũng đồng nghĩa triều đại trước phải kết thúc, khi làm vừa lòng nhóm người nầy, thì nhóm người khác phải hy sinh, hạnh phúc cho người nầy sẽ gây kkhổ đau cho kẻ khác. Dù đồng ý hay không, dù đứng dưới mọi góc cạnh nào để nhận định, phê phán, thì bóng dáng của ông vẫn hùng vĩ, hìên ngang, lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc.

 

- Trúc Lâm Quốc Sư

 

Người đã gây tác động mãnh liệt vào nội tâm của Trần Thái Tông, khiến ông thức tỉnh, buông bỏ, hoá giải mọi ưu phiền, khổ đau, bế tắc. Bằng vào câu nói " Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chổ, không cần phải đi tìm cực nhọc bên ngoài"

 

Thiền sư khuyên vua trở về trị nước và thường xuyên nghiên cứu tu tập " Đã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua về thì vua không về làm sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi." (bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Lời khuyên của Trúc Lâm thiền sư, ẩn chứa cả một tư tưởng thực nghiệm, xử thế cho bậc minh quân,và là hành trang tối cần để đưa dân tộc đạt đến vinh quang, thịnh vượng. Nhờ vào sự khai mở tâm linh đó, Trần Thái Tông nhận ra được vị trí đích thực của mình, lấy ý và lòng của dân làm ý và lòng mình, quên thân mình để phụng sự, thống hợp nhân tâm tạo thành sức mạnh đoàn kết quốc gia.

 

" Trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông chỉ gọi vị thiền sư núi Yên Tử là Trúc Lâm đại sa môn, tôn xưng là quốc sư, mà không bao giờ gọi ông là Phù Vân Quốc Sư. Vị thiền sư này là đệ tử của Hiện Quang mà theo Thiền Uyển Tập Anh, có pháp danh là Đạo Viên, sách Thánh Đăng Lục, sách Yên Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh và tài liệu truyền thừa chùa Hoa Yên (theo Hoà Thượng Phúc Điền) đều nói tên thiền sư là Viên Chứng.

Viên Chứng hay Đạo Viên hay Trúc Lâm Quốc Sư cũng là một người." Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 1 trang 228.

 

Nhờ vào tư tưởng thiền học chỉ đạo, dẫn lối, Trần Thái Tông đã tổng hợp, ứng dụng, sáng soi vùng trời tâm linh, mở ra những trang sử mới oai hùng cho Dân Tộc, trên nhiều phương diện: chính trị, văn hoá, học thuật, xã hội, tôn giáo.v.v...Giá trị đó ảnh hưởng lâu dài, không phải chỉ có một thế hệ mà còn nhiều thế hệ, không phải chỉ có một đời mà còn nhiều đời, nó còn xuyên suốt qua nhiều giai đoạn bi hùng của lịch sử Dân Tộc. Từ đó ta thấy được tư tưởng siêu việt, vĩ đại và những đóng góp nổi bật của ông.

 

Những sáng tác của Trần Thái Tông không những giá trị về mặt tư tưởng, mà còn thiết dụng trong việc hướng dẫn, khai lối, cho sự hành trì, tu tập giác ngộ. Tác phẩm của ông hiện còn: hai bài thơ, hai bài văn, đề tựa cuốn Kinh Kim Cương, đề tựa tác phẩm Thiền Tông Chỉ Nam, và một tác phẩm nổi tiếng Khóa Hư Lục.

 

Những trích đoạn dưới đây, chỉ một phần nào trong những sáng tác của ông:

 

- Ký Thanh Phong Am Tăng Đức Sơn

 

"Phong đã tùng quan nguyệt chiếu đình

Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh

Cá trung tư vị vô nhân thức

Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh"

 

Dịch nghĩa:

 

Gửi nhà sư Đức Sơn ở Am Thanh Phong

 

Gió đập cửa thông, trăng sáng trước sân.

Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ

Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay

Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng.

 

Dịch thơ:

 

Gió đập cửa thông, trăng lấp loáng

Lòng đây, cảnh đấy cùng thanh sảng

Bao nhiêu thú vị chẳng ai hay

Mặc kệ cho sư vui đến sáng.

 

Nguyễn Đổng Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 quyển thượng trang 21

 

Trần Thái Tông có lẽ sáng tác nhiều về thơ, nhưng do thất lạc hiện chỉ còn có hai, bài thứ nhất chúng ta đã đọc ở trên, bài thứ hai: Tống Bắc Sứ Trương Hiển Khanh. Với bài thơ ở trên, cũng đủ cho ta thấy cảm xúc của ông không đơn thuần là xúc cảm mà nó hoá thân bay bổng, chuyên chở trọn vẹn biểu tượng tâm cảnh cùng hoà nhịp trong sự soi sáng rộng mở. 

 

- Tựa Thiền Tông Chỉ Nam:

 

"Trẩm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm, tính người có trí ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt. Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh. Cho nên Lục Tổ có nói: " Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau". Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của đức Phật là giáo lý của mình ư ."

 

Đoạn mở đầu trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Trần Thái Tông đề cập đến câu " Phật không chia Nam Bắc" khiến chúng ta liên tưởng đến cuộc gặp gỡ giữa Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn với Lục Tổ Huệ Năng:

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn hỏi Huệ Năng:

 "Ngươi ở phương nào đến đây muốn cầu việc gì?"

Huệ Năng thưa rằng: " Đệ tử người ở Lĩnh Nam, vốn chỉ là một tên thường dân ở Tân Châu, nay lặn lội từ phương xa đến bái lạy Hòa Thượng chỉ cầu làm Phật chứ không cầu gì khác."

Tổ nói: "Ngươi là người Lĩnh Nam lại thuộc giống mọi rợ làm thế nào mà thành Phật được?"

 

Huệ Năng thưa rằng: "Con người tuy có Nam Bắc, Phật tánh lại chẳng có Bắc Nam. Tuy thân mọi rợ này không giống với thân Hòa Thượng nhưng Phật tánh không có gì sai khác."

 

Trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, ta thấy Trần Thái Tông tường thuật lại bối cảnh của ông nhiều hơn mặt tư tưởng, khi rảnh rỗi ông thường tham vấn Thiền học với những vị đạo cao đức trọng, nghiên cứu những bộ kinh điển lớn. Có điều chúng ta cần ghi nhận, nhờ đọc kinh Kim Cang khiến ông giác ngộ. Ông viết " Trẩm thường đọc kinh Kim Cương, đến câu "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm " vừa gấp sách lại ngâm nga, bổng nhiên tỉnh ngộ".

 

Vậy năng lực của kinh Kim Cang như thế nào, khiến Lục Tổ Huệ Năng lãnh hội tâm Phật và Trần Thái Tông tỉnh ngộ ? Câu " Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm " nghĩa là "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". Được Lục Tổ giảng như sau: " Hà kỳ tự tánh? Bản tự thanh tịnh. Hà kỳ tự tánh? Bản tự sanh diệt. Hà kỳ tự tánh? Bản tự cụ túc. Hà kỳ tự tánh? Bản vô động dao. Hà kỳ tự tánh? Năng sinh vạn pháp. Thức đắc thử tâm, diệu tạm viên tịch, bất nệ phương sở, bản vô sở sanh".

 

Tạm dịch: Thế nào là tự tánh? Vốn tự nó thanh tịnh. Thế nào là tự tánh? Vốn tự nó sanh diệt. Thế nào là tự tánh? Vốn tự nó đầy đủ. Thế nào là tự tánh? Vốn tự nó không lay động.Thế nào là tự tánh? Nó có thể sinh ra muôn pháp. Giác ngộ được tâm nầy, kỳ diệu sâu sắc, tròn đầy lặng lẽ, không bị lệ thuộc vào nơi chốn, vốn tự nó không từ đâu sanh ra.

 

- Tựa Kinh Kim Cang Tam Muội:

 

"Trẩm nghe, bản tính sâu trầm, chân tâm trong lặng. Khuyết tròn đều dứt, tính trí nào tìm được mối manh; tan hợp đều quên, tai mắt há dự vào hình bóng. Hữu vô nắm được; đạo tục san bằng. Sừng sững riêng mình; cao siêu có một. Đó là dòng sông trọng yếu của tự tính kim cương vậy.

 

Thế mà chúng sinh từ lâu đã bị thói quen của nghiệp bun nhiễm; thần thức lại thường chịu sóng gió của tri kiến lung lay, thì làm thế nào? Rời bỏ nết ô trọc che trùm há chẳng có ai; song xoay vần sáng tuệ chiếu soi quả chưa được mấy. Những khiến lang thang khắp chốn; mờ mịt lối về. Khập khểnh đường đời; rối bời chính đạo. Gốc nguồn khôn tỏ; thật dối khó phân. Vàng ròng lẫn với đồng thau; trăng sáng hiện cùng bụi bặm. Quê hương lầm về nơi không chốn; mặt mũi, quên dáng nét nguyên xưa. Đường Niết Bàn thực khó tiến lên; việc sống chết rơi vào hữu hạn. Cho nên thầy ta nhân ái , chỉ bảo vô sinh từ nhẫn; xót thương nỗi khổ đắm chìm. Tứ hoằng thệ nguyện để lòng; nhọc mệt tam tư da diết. Phép trong ứng hiện, sao lành soi tỏ triều Chu; chính pháp tượng về, bóng Phật nằm mơ nơi điện Hán. Đằng lan chở tới, trúc đán vừa thông; Kinh Phạn dịch ra, văn hoa rực rỡ. Đổi thay lá bối; viết vào lụa hồng. Bể giáo phơi bày đủ loại trân châu; trời kinh la liệt muôn vàn sao sáng. Hoặc muốn tăng thêm nơi chưa ổn; hoặc mong bồi bổ chổ sót rơi. Nối gót theo nẻo Y- ngô; đưa chân tiếp đường sa mạc. Không ngại xa mà vượt bể; dốc một dạ để về Hoa. Từ Hán bắt đầu; đến nay rộng mở. Khuyết, tròn, đầy, nửa, không chút thiếu ở hòm châu; nhanh, chậm, thực, quyền, vẫn có thừa trong cặp báu. Kinh Kim Cương Tam Muội lẽ nào không phải là loại viên mãn, đốn thực hay sao? Nếu không thế thì sao đủ đem vô sinh pháp yếu, trổ phương tiện thần thông?"

Đỗ Văn Hỷ- Huệ Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển Thượng trang 33.

 

Kinh Kim Cang, gọi đầy đủ Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Phần mở đầu, và cũng là trọng tâm của kinh này, bằng vào hai câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề:

 

"Làm sao hàng phục vọng tâm?" 

"Làm sao an trụ chơn tâm?"

 

Vọng tâm? Mê mờ chấp ngã, chấp pháp, chạy theo nắm bắt mộng, huyễn, tử, sanh, nên mới điên đảo trôi lăn trong vòng luân hồi, sanh tử, không một phút giây dừng lại.

Chơn tâm? Cái tâm trong sáng tròn đầy, viên dung vô ngại, tỉnh thức, vượt thoát ra ngoài mọi triền phược, níu kéo, dính mắc. "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". cũng là cách " an trụ chơn tâm" vậy. Đây là phương pháp tu hành của những bậc "xuất trần thượng sỹ".

 

 Năng lực của Kinh Kim Cang phá trừ những mê vọng, chấp trước. Chặt tan làm tiêu hủy ngã chấp, pháp chấp, không một nơi chốn nào có thể trụ bám được. Công năng của kinh, hiển bày sự giác ngộ, làm hưng khởi chơn tâm một cách toàn triệt.

 

Lục Tổ Huệ Năng và Kinh Pháp Bảo Đàn, đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào thời nhà Lý, Trần, vì thế trong bài tựa Thiền Tông Chì Nam, Trần Thái Tông đề cập đến câu " Phật không chia Nam Bắc" và trích dẫn lời của Lục Tổ " Bậc đại thánh và đaị sư đời trước không khác gì nhau". Điều đó cho thấy sức ảnh hưởng của Đại thừa đốn giáo thiền tông, ăn sâu vào trong tận cùng tâm thức quảng đại quần chúng.

 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng thuyết giảng có đoạn:

 

"Chư Thiện tri thức, muốn vào pháp giới cao thâm cùng Trí Bát Nhã Tam Muội thì phải tu hạnh Bát Nhã. Phải trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã, tức khắc thấy tánh. Phải biết các công đức của kinh ấy thiệt là vô lượng vô biên. Những lời khen ngợi trong kinh rất rõ ràng, không thể nói ra hết được. Cái pháp môn ấy là pháp Tối Thượng Thừa, vì người đại trí, vì người thượng căn mà nói. Các người tiểu căn tiểu trí nghe pháp môn ấy, lòng nghi ngờ chẳng tin là bởi cớ sao? Ví như các vị Thiên Thần và Long Thần làm mưa xuống cõi Diêm Phù Đề (tức là cõi Nam Thiệm Bội Châu) thì cả thảy thành, ấp, làng, xóm đều trôi nổi như lá táo. Còn nếu mưa xuống biển cả, thì thấy chẳng thêm chẳng bớt. Cũng như người đại thừa, người tối thượng thừa nghe nói kinh Kim Cang, thì tâm địa mở mang tỏ hiểu. Cho nên biết rằng Bổn tâm tự nó có trí Bát Nhã. Bởi Bổn Tánh của mình thường lấy trí huệ mà xem soi, cho nên chẳng cần dùng văn tự. Ví như nước mưa chẳng phải do trời làm mà có, nguyên bởi năng lực của nước dấy động, khiến cho cả thảy các loài hữu tình, các loài vô tình, tất cả đều được gội nhuần. Cả thảy sông ngòi đều chảy vào bể cả, hiệp làm một thể. Cái Trí Bát Nhã của Bổn Tánh của chúng sanh cũng giống như thế".

 

"Chư Thiện tri thức, tâm không giác ngộ, Phật là chúng sanh. Một niệm giác ngộ, chúng sanh tức là Phật. Cho nên biết rằng muôn pháp đều ở nơi Bổn Tâm của mình. Vậy sao chẳng do nơi Bổn Tâm của mình mà thấy liền cái Chơn Như Bổn Tánh? Kinh Bồ Tát Giới có nói rằng: “ Cái Bổn Nguyên tự tánh của ta vốn trong sạch. Nếu biết tâm mình và thấy tánh mình, thì thành Phật đạo.” Kinh Tịnh Danh có nói: “Tức thời tâm trí thông suốt, thì phục hồi đặng Bổn Tâm.” Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát Nhã, Hòa Thượng Minh Trực dịch. 

 

- Khóa Hư Lục: Tác phẩm rất nổi tiếng, tổng hợp nhiều bài giảng, tiểu luận, thi kệ chia làm ba quyển.

 

Quyển Thượng: Phổ thuyết

 

* Phổ thuyết Tứ Sơn ( sinh, lão, bệnh, tử )

* Phổ thuyết sắc thân

* Phổ khuyến phát Bồ Đề Tâm

* Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ

 

Quyển Trung: Luận, văn, ngữ lục

 

* Giới định tuệ luận, Thụ giới luận, Niệm Phật luận, Toạ thiền luận, Tuệ giáo giám luận, Bình đẳng lễ sám văn tự, Giới sát sinh văn, Giới thâu đạo, Giới sắc văn, Giới vọng ngữ văn, Giới tửu văn, Ngữ lục vấn đáp môn hạ, Niệm tụng kệ ( 43 công án).

 

Quyển Hạ: Lục thì sám hối khoa nghi

 

* Tựa lục thì sám hối khoa nghi

* Sáu thời gồm có: Thì sáng sớm, Thì giữa trưa, Thì mặt trời lặn, Thì chập tối,Thì nữa đêm, Thì rạng đông,

 

Sơ nhật thì: ( Thì sáng sớm) Dần thì cảnh sách kệ, Sơ nhật chúc hương, Hiến hương kệ, Hiến hoa kệ. Khải bạch. Sám hội nhãn căn tội. Chí tâm khuyến thỉnh. Chí tâm tùy hủy. Chí tâm hồi hướng. Chí tâm phát nguyện. Sơ nhật vô thường kệ.

 

Trung nhật thì: ( Thì giữa trưa) Trung nhật trung chúc hương, Khải bạch, Sám hối nhỉ căn tội, Chí tâm phát nguyện, Thử thời vô thường kệ.

 

Nhật một thì: ( Thì mặt trời lặn) Nhật một chú hương, Khải bạch, Sám hối tỵ căn tội, Chí tâm phát nguyện, Thử thời vô thường kệ.

 

Sơ dạ thì: ( Thì chập tối ) Hoàng hôn khuyến chúng kệ, Bát khổ kệ, Sơ dạ chúc hương, Khải bạch, Sám hối thiệt căn tội, Chí tâm phát nguyện, Thử thời vô thường kệ.

 

Bán dạ thì: ( Thì nữa đêm ) Bán dạ chúc hương, Khải bạch, Sám hối thân căn tội, Chí tâm phát nguyện, Thử thời vô thường kệ.

 

Hậu dạ thì: ( Thì rạng đông ) Hậu dạ chúc hương, Khải bạch, Sám hối ý căn tội, chí tâm phát nguyện, Thử thời vô thường kệ.

 

Trong sáu thời tu tập, chúng ta thấy Trần Thái Tông chú trọng đến: Dâng hương hoa, tâu bạch, sám hối, phát nguyện, hồi hướng, kệ vô thường. Trong đó có sự thành tâm, trãi lòng, sám hối sáu căn, hướng nguyện, khuyên răn, nhắc nhở. Nếu chúng ta biết áp dụng phương cách tu tập như ông, sẽ mang lại ích lợi một cách hoàn mỹ, thiết thực.

 

- Phổ thuyết tứ sơn: ( Nói rộng về bốn núi)

 

Tứ Sơn, là bốn núi tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử. Đây là chặng đường vô thường, có không, cửa ải, mà ai cũng phải đi qua. Đó là bốn nguyên lý, bất di bất dịch, ta không thể nào trốn chạy hay lánh né được. Chỉ có đương đầu trực diện, sống và thở cùng nó, mới may ra làm chủ được phần nào. Và ta chỉ có thể điều khiển được khi năng lực cơ thể, tinh thần còn sung mãn, nhưng khi vô thường, nhân qủa nghiệp lực, bệnh tật khiến nó yếu đi, hoặc vì lão, bệnh, tử đến, không khéo lúc ấy nó sẽ điều khiển ta. Dù có chờ đợi giây phút đó hay không, nó cũng lù lù xuất hiện, ta bằng lòng hay từ chối nó cũng vẫn hiện hữu. Khi ta biết tỉnh thức tu tập vượt qua, biết thay đổi nghiệp quả số phận, biết làm bạn đồng hành với sinh lão bệnh tử, cũng là lúc ta nhẫn chịu mĩm cười, an phận bằng lòng, như thế phần nào ta đã được thảnh thơi nhẹ bước. Ta sống trong sự tươi vui, an lạc, trong bình minh nắng ấm, trên lối đi về của muôn hoa, hay sống trong hoàng hôn tái tê, lạnh giá với mưa phùn nắng cháy, và sống như thế nào đều do chính ta quyết định.

 

Bài kệ núi thứ nhứt:

 

(Chân tể huân đào, vạn tượng thành

Bản lai phi triệu hựu phi manh

Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm

Khước bội vô sinh, thụ hữu sinh

Tị trước chư hương, thiệt tham vị

Nhãn manh chúng sắc, nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình.)

 

Tạo hóa khuôn thiêng đúc vạn hình

Vốn không triệu chứng chẳng mầm xanh

Sai vì hữu niệm quên vô niệm

Trái với vô sinh hướng hữu sinh

Mũi lưỡi tham lam hương lẫn vị

Mắt tai mê mẫn sắc cùng thanh

Phong trần thất thểu làm thân khách

Muôn dặm xa quê cuộc viễn trình.

 Đỗ Văn Hỷ, Đào Phương Bình, Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2, quyển thượng trang 45

 

Bài kệ núi thứ tư:

 

(Bãi đảng cuồn phong quát địa sinh

Ngư ông túy lúy điếu châu hoành

Tứ thủy vân hợp âm mai sắc

Nhất phái ba phiên cổ động thanh

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh

Tạm thời, trần liễm, thiên biên tĩnh

Nguyệt lạc trường giang dạ hỷ canh).

 

Một trận cuồng phong dậy đất bằng

Ngư ông say khước thả thuyền ngang

Bốn phương mây kéo màu đen kịt

Một giải sông reo sóng dậy tràn

Sầm sập toé tung mưa xối xả

Ý ầm chuyển vận sấm oang vang

Phút giậy bụi cuốn chân trời tạnh

Canh vắng, dòng sông bóng nguyệt tàn.

 

Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 1 trang 253

 

Cuộc sống mà chúng ta đang trực diện, phủ vây bởi muôn ngàn đau khổ, âu lo. Những điều chúng ta mong cầu, nó không chịu đến, những thứ mà ta khước từ, xua đuổi nó âm thầm hiện hữu, lôi kéo, xúi dục, khiến ta mãi miết chạy theo, không biết đến bao giờ mới giật mình thức giấc. Không khéo, ta hoang phí đánh mất một đời để phải nổi trôi, chìm đắm trong tử sinh mộng huyển. Ta đi về đâu giữa phong ba bảo tố, với ngút ngàn thống hận, khi đàng trước mịt mờ hoang lộ, đàng sau chập chùng muôn vạn nẽo? Làm sao để giác ngộ, tỉnh thức thắm tô trên nẽo đi về? 

 

Sự đi lại, tán gẫu, nỗi trôi của tâm thức, khiến ta không biết cách nhận thức, biết cách sống, biết cách thở, biết cách tu, nên mãi lăn lộn chìm đắm trong ba đường sáu nẽo chúng sinh. Cứ thế xoay vần, hết xuống lại lên, lên rồi lại xuống, đứng ở nơi nầy trông về hướng khác, nắm được trong tay cái nầy lại lo đi tìm cái kia. Từ trước đến nay ta chỉ lo ôm vào nhận lấy trong sự tích lũy, chứ chưa biết cách nhận và cho trong sự hoan hỷ cùng tuyệt. Cái vòng luẩn quẩn liên kết ấy, ta bỏ một lúc thôi sau đó tìm cách đeo vào, bỏ lúc nầy lấy lúc khác, bỏ tay này tay kia tìm cách lấy lại. Cứ thế ta bị xói mòn, tiêu hao năng lực, phí cả thời gian nào ta có biết. Ta chỉ lo tìm cách thoả mãn bản ngã, nâng niu cung phụng nó cho thật lớn mạnh, tâm lúc nào cũng chạy nhảy lăng xăng, không một phút giây bình tâm tỉnh thức, chưa có cơ hội đặt lại vấn đề, tra vấn với chính ta. Như thế làm sao đi đâu về đâu được? Nơi an lạc nào để ta đến với hành trang và tâm trạng như thế?

 

- Phổ Thuyết Sắc Thân ( Bàn rộng về sắc thân) ông viết:

 

 " Hởi các người! thân là gốc khổ; chất lấy nghiệp nhân. Nếu tự coi thân đó quả là chân: tức nhận kẻ thù làm ruột thịt.

 

Các người hãy xem lại cho tường, sắc thân kia khi chưa vào bào thai thì do đâu mà có? Ấy là do niệm nhóm duyên tụ, ngũ uẩn hợp thành. Dáng vóc lầm sinh, hình dung giả lộ. Quên thực quên gốc: hiện dối hiện hư. Hoặc gái hoặc trai: hoặc xinh hoặc xấu. Hết thảy đều để cho tâm rời bỏ, không làm sao trở gót quay về. Nẻo đường sanh tử cứ mãi mê: mặt mũi nguyên xưa thôi mất hết. Chỉ giương mắt, bề ngoài xem xét: nào ngoái đầu hướng nội soi nhìn. Khởi đầu, sinh thực hoá sinh: nơi đến, mộng tràn nói mộng. Lăn lăn lộn lộn: vội vội vàng vàng. Lấy ảo làm chân: bỏ không theo sắc. Gáo đầu lâu , hoa cài ngọc giắt: túi da xấu, xạ ngát hương xông. Cắt lụa là che bọc máu hồng: dồi son phấn át thùng phân thải. Trang sức bề ngoài như vậy, vẫn là cái gốc nhớp nhơ. Thế mà không tự thẹn với mình ư: lại còn chứa lòng yêu thương đắm đuối".

 

Kệ rằng:

 

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man

Thùy tri vân quyển, trường không tịnh

Thúy lộ thiên biên, nhất dạng san.

 

Vô vị chân nhân thịt đỏ au

Hồng hồng trắng trắng, lừa dối nhau

Ai hay mây cuốn, trời quang tạnh

Núi hiện chân trời, biếc một màu

 

Huệ Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2, quyển thượng trang 54

 

Sắc thân là thân do cha mẹ sanh ra, bốn đại ( đất, nước, gió, lửa) và năm uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hợp thành, tự nó vốn giả hợp. Trần Thái Tông nhờ lãnh hội được trí tuệ của Bát Nhã, nên phăng ra được cội nguồn của vô thường, sinh tử. Khi đề cập đến "sắc" tức các Pháp, còn mang ý nghĩa "sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc" nghiã là: " các pháp chẳng khác với Bát Nhã (không), Bát Nhã chẳng khác với các Pháp; các Pháp tức là Bát Nhã (không), Bát Nhã tức là các Pháp ".

Bồ Tát khi quán chiếu, thường nghiệm, thâm nhập, vào biển Trí huệ vô tận của Bát Nhã, thấy năm uẩn đều "không" nên vĩnh viễn, xa lìa các khổ, chứng đắc cảnh giới vi diệu, an nhiên, thường tịch của giải thoát.

 

Vô vị chân nhân, còn gọi là "bản lai diện mục", tức là mặt mũi thật sự của mình trước khi cha mẹ chưa sanh. Trong tất cả chúng ta đều tàng chứa Phật tánh, Chân như, thể tánh giác ngộ, khả năng thành Phật. Khi nào vô minh còn che phủ, phiền não còn ngự trị, thì Phật tánh ấy không hiện hữu. Chỉ khi nào quét sạch màng đêm tăm tối cuả vô minh, ánh sáng trí tuệ của tâm thức bùng lên, khi nào đoạn trừ được khổ đau, phiền não, tức khắc Phật tánh ấy lộ diện. Lúc ấy ta hoan ca trong khúc ca chứng đạo, thong dong trên mọi lối đi về của luân hồi, sinh tử, xa rời thống khổ phủ vây.

 

- Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm (Rộng khuyên mọi người mở lòng Bồ Đề) có đoạn:

 

 " Rõ ràng thay, ngày tháng trăm năm chỉ là phút chốc. Cái ảo thân tứ đại há được lâu dài. Càng ngày càng đắm trần lao, mỗi lúc mỗi vương nghiệp thức. Chẳng hiểu biết sự viên minh của một tính, chỉ buông tuồng cái tham dục của sáu căn. Công danh rất mực chỉ là một giấc mộng to, phú qúy hơn người cũng khó tránh vô thường hai chữ. Cậy mình cậy nó, rút cuộc thành không, khoe giỏi khoe tài, cuối cùng chẳng thực."

 

" Thanh sơn đê xứ kiến thiên thoát

Hồng ngẫu khai thời văn thủy hương"

 

" Non xanh nơi thấp trông trời rộng

Sen đỏ mùa hoa nghe nước thơm."

 

Đỗ Văn Hỷ- Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2, quyển Thượng trang 64

- Phổ Thuyết Hướng Thượng Nhất Lộ (Nói rộng về một con đường tiến lên) :

 

 “Bàn Sơn có lời thùy ngữ sau đây: “Một con đường hướng thượng, ngàn thánh không truyền; học giả vì vậy mà khổ công nhọc mình như con vượn tìm bắt bóng hình của nó” (hướng thượng nhất lộ, thiên thánh bất truyền, học nhân lao hình, như hầu tróc ảnh). Quý vị học giả bốn phương hãy hướng về đầu nẻo ấy mà tham thủ lấy thiền ý kia xem sao. Tôi xin hỏi: các vị làm sao mà “tham thủ” được thiền ý ấy? Nếu có chủ tâm tham thủ và đối tượng tham thủ thì cũng như anh chàng gàn điên kia, trên đầu lại muốn thêm có một cái đầu, sau lưng lại có muốn thêm một cái đuôi, trong mắt lại muốn có thêm con ngươi, trên da thịt lại có thêm nhiều cục bướu. Đề tài ấy, nói tới thì môi miệng cứng câm, nhìn tới thì đồng tử rơi rụng... Ông già mắt vàng liếc mắt làm ngơ; Hồ tăng mắt xanh dương mi đứng ngó; Mã Tổ vứt phất trần; Thủ Sơn giấu cào tre; Triệu Châu xé áo gai; Vân Môn bỏ bánh Hồ; Đức Sơn liệng gậy; Lâm Tế nuốt tiếng hét; Phật phật Tổ tổ đều tiềm ẩn tung tích, người người ai nấy đều táng đởm kinh hồn. Đó là một vật dùi sắt đâm vào không được, kim đồng xuyên qua không thủng, ánh sáng nháng ra từ đá lửa mau thế mà không đuổi kịp nó, làn chớp trên trời so với nó cũng còn chậm rì. Chưa thấy được nó thì dù tỉnh ngộ cũng còn trong làng trầm túy; dù mê man cũng còn dẫm trên đường sinh tử; dù đã được phú chúc trên hội Linh Sơn thì cũng vẫn còn ở trong chốn lậu đậu như thường; dù được Thiếu Thất truyền cho thì cũng như còn là trong hang giây quấn. Phải có cơ dương tinh nhuệ mau như chớp giật, một tiếng hét cũng khế hợp được căn cơ; phải có ngôn tài thao thao như dòng sông, hễ thoại đầu đưa ra là giải quyết ngay được. Tham khảo đi tham khảo lại, sâu ngày dài tháng, nếu không dám đi trên con đường đèo trơn trợt thì làm sao thoát được thân phận trong hang sâu núi thẩm?

 

 Này quý vị, hễ đã tới đây thì chớ bỏ qua dịp quý mà không tham cứu. Nhiều kẻ học giả đưa mắt nhìn sườn núi cheo leo, nghĩ rằng khó mà bước tới. Hôm nay vì quý vị tôi không khỏi đánh liều tay rờ râu cọp, chân đi đầu sào chót vót. Khi nói, phải biết rằng như gió thổi tung reo; khi im phải biết rằng như hồ trong trăng chiếu; khi đi, phải biết rằng như nước chảy mây trôi; khi đứng, phải biết rằng như núi yên non vững. Lời nào nói ra cũng đều nằm trong kế hoạch linh hoạt của Thích Ca; câu nào cất lên cũng đều phù hợp với gia phong Sơ Tổ. Buông đi thì tám chữ mở toang, nắm lại thì nhất môn tuyệt đỉnh, hạng ma quỷ sẽ trở thành lâu đài Di Lặc, núi Hắc Sơn sẽ chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền: đâu đâu cũng là đại quang minh tạng, căn cơ nào cũng là bất nhị pháp môn. Ngại gì ánh sáng đến khi bóng tối đi, quản chi lúc mây che thì trăng hết tỏ. Ngọc minh châu nằm lòng bàn tay, xanh thì chiếu xanh, vàng thì chiếu ánh sắc vàng; gương cổ dựng trên đài: Hồ thì hiện Hồ, Hán thì hiện Hán. Đâu cần nhìn đến huyễn thể, vì đâu đâu cũng là pháp thân, khỏi nhọc đỉnh đầu phóng quang, vốn sẵn đã có trong sáu thần thông diệu dụng. Cung điện ma vương đảo lộn, tâm can ngoại đạo lật bày; biến trái đất làm vàng ròng cho quốc gia, đãi nhân thiên lấy sông dài làm sữa ngọt; chuyển pháp luân thường trực trong lỗ mũi, hóa bảo tháp hiện thực dưới lông mi. Trên sóng nước, thiếu nữ bằng đá múa khúc Bà Sa, trong mây bạc, người gỗ nhạc công thổi sáo ca bài ca lưu khách. Khi gặp vũ trường liền diễn xuất, lúc thấy chỗ tốt thì nghỉ ngơi; hoặc đưa tay tìm dắt, hoặc quay về sơn dã, khi biếng nhác thì theo {chân đám} mây ngủ {trên tảng} đá, lúc hứng chi thì vịnh nguyệt triều phong; ưu du nơi tửu tứ trà phương, tiếu ngạo là đường hoa liễu bá.

 

Hoa vàng rỡ rỡ, không đâu là tâm bát nhã, tre tím xanh xanh, không đâu là không lý chân như. Nhổ cỏ dại hiện bản lai diện mục, con đường mòn cắt đứt nẽo tử sinh. Hồi đầu cưỡi ngựa sắt mà về, xỏ mũi trâu bùn đi bước một. Không lấy một pháp trong vạn pháp làm bạn thì đâu còn sở đắc nào? Phật cũng không, tâm cũng không, chân cũng đúng mà giả cũng đúng. Ngoài cửa tam yếu dù hét “nhị” cũng là “tam”. Đầu đường thập tự có hô “cửu” vẫn là “thập”, lấy sáo không lỗ tấu khúc vô sinh. Dùng đàn không giây gãy bài khoái hoạt. Ai ai mà không phải tri âm, đâu đâu lại chẳng là bè bạn? Một con đường hướng thượng ấy, làm sao ta hiểu được? Hãy nghe kỹ nghe kỹ. Ai nghe lọt được thiền ngữ ấy thì tai sẽ bị ba ngày điếc đặc. Nếu chẳng nghe lọt, há lại bỏ đi hay sao? Bởi vì nơi nào cũng có những cây dương xanh có thể buộc ngựa, nhà nào cũng có con đường dẫn về kinh đô. Đường về dưới nguyệt ít ai đến, một ánh trăng khuya lạnh khắp miền...” Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận cuốn 1, trang 265-268

 

Chưa một ai, và không một ai đủ thẩm quyền để truy tìm một đinh nghĩa về Thiền. Nó lặng thinh bao trùm lên cõi có không, vô tận. Dùng trí thức năng động, dong ruổi để thẩm tra, ắt hẳn lạc xa nghìn trùng, quan ải. Nó lãng đãng bồng bềnh theo mây trời đến đi, hội tụ. Quay mặt lại nó thật gần mà cũng thật xa như mấy độ quan san, cách trở. Khi nắm bắt, nó vụt bay không lời từ giả, bặt mất tăm hơi. Tất cả chỉ có sự diệu dụng trong mỗi hành hoạt, không bị bủa vây, giới hạn nào kìm toả. Khi nào ta biết quán chiếu thực tại một cách liên tục, bền bỉ không sát na, phút giây nào ngừng nghĩ. Ta phải gõ nhịp liên tục trong tận cùng tâm thức, quán chiếu tỉ mĩ mọi biến đổi chuyển hướng, dong ruỗi của tâm thức. Tự mình trãi nghiệm, khai phá nội tâm, đến khi nào đạt được thâm nghĩa, hành vô hành, thắp sáng hiện hữu, làm sống dậy sự thức tỉnh vẹn toàn, mở tung cánh cửa thức giác nhiệm mầu. Khi nào vượt lên trên tất cả, không níu kéo, tìm cách đóng khung nó trong tháp ngà quan niệm, suy luận. Lúc đó ta mới thấy được sự diệu dụng, vô cùng, đầy linh hiện, và bộ mặt đích thực, vô thủy, vô chung. Khi ấy ta không còn hoài công rượt theo đuổi bắt, nó dâng trào sẵn trong ta, cùng ta, trên mọi lối đi về thanh thoát.


 (Còn tiếp)

 

Như Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn