Kỷ Niệm Tuổi Thơ

07/11/201012:00 SA(Xem: 6549)
Kỷ Niệm Tuổi Thơ


Kỷ Niệm Tuổi Thơ


Diu Trí


Ngày hôm đó, ngồi trên xe đò Hà cảm thấy rất vui vì chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa là gặp được ông bà nội; điều thú vị nhất là Hà sẽ được gặp gia đình bác Cả có mấy người anh chị con của bác lúc nào cũng quý Hà, dẫn đi chơi cảnh đẹp đồng quê: nào là câu cá, hái bắp nướng ngoài trời, tắm ao, các thứ trái cây ngon trong vườn tha hồ ăn thoải mái, rồi những đêm trăng sáng được nô đùa ngoài sân, hát hò, nhẩy dây, kéo co, chơi đi trốn đi tìm v.v… Mải nghĩ liên miên, xe đò đã dừng lại trạm cầu sắt. Chỗ này là một phố nhỏ, có bến xe, bến đò qua lại, đi các nơi. Chú lơ xe dẫn Hà xuống xe vì hồi sáng bà Hai thân mẫu của Hà khi ra bến xe đã gởi xe quen để Hà về quê nội.

 Hà vội vàng kiểm hành lý trong đó có quà đặc biệt để biếu ông bà nội, gia đình bác Cả và một gói quà nhỏ để biếu cô Hoạt là con nuôi của ông bà nội Hà. Vì khi về quê cô Hoạt sẽ là người chăm sóc cho Hà kỳ nghỉ hè này tại quê nội.

 Xuống xe, nhìn đồng hồ đã 2 giờ chiều cùng ngày, Hà đang ngơ ngác thì bỗng thấy cô Hoạt đã đứng chờ. Cô dắt Hà ra bến đò, vì từ cầu sắt vào làng Vị Hạ phải qua một con sông nên cần đi đò. Anh Dâng lái đò là người cùng làng với Hà, nhà anh ở gần ven sông, nơi có một cái chợ họp hàng ngày nên gọi là xóm chợ. Ông bà thân sinh ra anh Dâng xưa kia đã làm nghề đưa đò, gắn liền với nếp sống sinh hoạt hàng ngày của phiên chợ càng ngày càng sầm uất, buôn bán tấp nập, vì thế dân làng cũng có được một cuộc sống sung túc. Nghe nói anh Dâng là người con có hiếu, ngay từ khi mới 15 tuổi đã biết phụ cha đưa rước khách sang sông, và khi lớn lên lại tiếp tục nghề đưa đò của cha để lại.

 Hà gặp lại đại gia đình, mọi người đều vui vẻ. Kỳ nghỉ hè này cũng vào dịp làng có lễ hội, ngày kỵ của Thần làng. Hà thấy ông bà nội và mọi người trong làng chuẩn bị sắm sửa hoa trái, làm xôi đóng oản, nấu chè làm bánh để lễ chùa, lễ đình, nhưng điều chính là để tế đền thờ Thần làng. Làng này có đền Đồng Bến là linh thiêng. Nơi đây giữa

cánh đồng có một khu đất rộng, chung quanh trồng tre làm dậu, có một ngôi đền xây theo lối cổ xưa, cột kèo toàn bằng gỗ lim chắc chắn, mầu nâu xậm bóng loáng, có trạm trổ hình rồng phượng khảm xà cừ, hoành phi câu đối bằng chữ Nho sơn son thếp vàng trông thật trang trọng uy nghi.

 Ngoài sân cách cửa chính vài ba thước có một bàn cờ bằng đá mài mầu xanh lộ thiên, chung quanh bàn cờ này có sáu ghế đá, bên cạnh là hai voi phục cũng bằng đá trắng nằm chầu. Dân chúng đồn rằng: “Ngày xưa chỗ này là nơi các quan dùng để hội họp, nghỉ ngơi, vịnh thơ, đánh cờ, hưởng không khí trong lành của đồng quê. “ Giả thuyết này cũng có thể là đúng vì làng Vị Hạ xưa kia đã có cụ Tam Nguyên Nguyễn Khuyến ra làm quan một thời gian ngắn. Trải qua bao thế kỷ vật đổi sao dời, nơi đây đã được các cụ bô lão trong làng tu bổ lại và xây đền thờ các Ngài. Nơi này rất linh thiêng, dân làng cầu chi cũng được toại nguyện, những ai đi qua nơi này cũng đều bỏ mũ nón, cúi đầu kính cẩn.

 Sau khi cúng tế xong, mọi người đều được thọ lộc tại nhà khách, sau đó ở lại xem hát. Ông bà nội của Hà thì đã ra về từ hồi chiều, còn lại mấy anh chị em, cô Hoạt và Hà ở lại coi vở kịch “Bao Công xử án”, cốt truyện kể một bà Hoàng hậu lâm bồn sinh một Thái tử, nhưng sau đó đã bị một thứ phi âm mưu cùng một vị quan trong nội cung đem Thái tử đi dấu và tráo vào đó một con mèo con, rồi tâu với Hoàng thượng là Hoàng hậu đã sanh ra một quái thai. Hoàng thượng bèn nổi cơn lôi đình, ra lệnh truất phế Hoàng hậu bắt giam vào lãnh cung, rồi một ngày sau đó thứ phi kia cũng dở dạ lâm bồn, nhưng hài nhi vừa sinh ra lại bị chết ngộp, nên buộc lòng ông quan nọ phải đem Thái tử thế vào. Từ đó thứ phi được nhà vua sủng ái, hơn nữa thứ phi lại có một nhan sắc diễm kiều khiến nhà vua say mê, phong vào ngôi Hoàng hậu…

 Truyện dài nên Hà đã ngủ gục vào vai cô Hoạt mà không nhớ được đoạn cuối, đến lúc cô Hoạt đánh thức Hà để đi về, Hà mắt nhắm mắt mở

được cô Hoạt cõng đi. Bước ra ngoài sân, đèn đuốc sáng trưng, nhưng khi ra đến cổng đền, nhìn ra đường thật sự trời đã tối hẳn.

 Buổi tối ở nhà quê chỉ mới 8, 9 giờ đã cảm thấy như khuya lắm, huống hồ lúc đó cũng khoảng chừng gần nửa đêm. Dọc theo bờ ruộng hai bên đường, lúa đã gặt còn trơ gốc rạ trắng xóa. Không có đèn đuốc, màn đêm bao phủ hòa trong tiếng gió vi vu, tiếng dế mèn hát trong đêm tối, thỉnh thoảng trên không trung vài con vạc đi ăn đêm buông tiếng kêu khuya, sao nghe tĩnh mịch quá! Tất cả mọi người đã đi thật nhanh, còn lại cô Hoạt phải cõng Hà nên lẹt đẹt sau cùng. Hà lúc đó đã tỉnh hẳn vì quá sợ hãi bóng tối của màn đêm bao quanh. Hai cô cháu cùng nhau đi được một quãng đường dài thì đến ngã ba của làng, một đường rẽ lên xóm trên, một đường rẽ ra xóm chợ và một đường vào giữa làng là nhà của đại gia đình Hà. Chỗ ngã ba này được gọi là cổng đình, có một cây đa cổ thụ, chung quanh gốc đa người ta thường bỏ những bình vôi cũ, đèn bão hư và những lư hương đã từ lâu không còn chân nhang; bên cạnh là một cây chuối um tùm, cộng thêm bụi tre trúc già gió đưa kẽo kẹt, đom đóm lập lòe trên ngọn cây. Hà ngồi trên lưng cô Hoạt nhắm nghiền mắt lại, tim đập thình thịch, khiến cho cô Hoạt phải bật cười, và nói đùa cho Hà yên tâm:

 “Cô nghe bà nội nói sau 12 giờ đêm ma mới ra chứ bây giờ chưa ra đâu!”

 Bình thường chưa ai nói gì, với cảnh màn đêm như thế này Hà đã sợ lắm rồi, huống chi hồi chiều hôm qua Hà lại nghe bà nội kể chuyện ma, bà nói về cổng đình làng ta xưa kia, những đêm mưa gió thường có tiếng kêu, tiếng cười, một đôi khi người ta đi đêm qua đó thường có một người xõa tóc cười lớn và nhẩy ùm xuống ao! Tự nhiên, lúc đó Hà có cảm tưởng như có người bước phía sau cô Hoạt, bỗng một luồng gió thổi qua gáy, Hà sợ quá, lại nghe như có tiếng ai ngã xuống ao, bọt nước bắn lên tung tóe, Hà bật khóc và lẩm bẩm:

 “Nội ơi, hồi chiều nội đã nói con đi về với nội trước, không nên đi tối làm gì, mà con ham chơi nên không nghe lời nội, để bây giờ gặp ma rồi..”

 Cô Hoạt nghe vậy cũng hoảng hốt, cắm cổ bước đi thật nhanh. Về đến nhà, leo lên giường, Hà nằm trong, cô Hoạt nằm ngoài. Hà vội trùm chăn kín đầu và ngủ lúc nào không hay. Đến sáng khi ánh nắng rọi vào trong phòng Hà mới tỉnh dậy, một lúc sau cô Hoạt gọi ra ăn sáng, Hà ngửi thấy mùi gì thơm phức. À thì ra hồi tối chú Ba lực điền cầy ruộng của ông bà nội đã bẻ trộm mấy bụp măng ở cổng đình, vì có tiếng chân người đi tới nên chú vội vã nấp, chẳng may té xuống ao. Số là có mấy con vịt còi chú xin bà nội nuôi riêng, chú cho ăn nay đã béo mập nên chú muốn nấu món vịt xáo măng để đãi Hà và mấy anh chị con của bác Cả nữa! Như vậy Hà đánh dấu hỏi trong đầu, có ma hay không nhỉ? Có ma hay không Hà không dám trả lời là không, tuy Hà chưa gặp ma lần nào, nhưng thâm tâm nghĩ rằng: “Việc này thật khó hiểu quá!”

 Mùa hè rồi cũng qua mau, Hà phải từ giã quê nội, rời làng Vị Hạ để trở về đi học. Xa làng cũ trong đó có những người thân thương với nhiều kỷ niệm êm đềm, vui tươi, luyến tiếc, sợ hãi … con đường vào làng, bến đò với những phiên chợ ồn ào náo nhiệt, cổng đình, cây đa bóng mát, ma nhát trong đêm khuya… nay chỉ còn là kỷ niệm. Tất cả đã xa tầm tay với.

 Thấm thoát đã sáu mươi năm qua, mái tóc đã điểm sương, Hà giờ đây là một bà cụ thất thập với một đàn con cháu, nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu, lòng bâng khuâng: “Kỷ niệm bao giờ cũng đẹp!”


 Diệu Trí   


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn