Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

08/11/201012:00 SA(Xem: 6504)
Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển


Phật Giáo Tinh Hoa và Phát Triển

(Buddhism its essence and development)

Edward Conze - dịch giả Tùng Sơn

 

(Tiếp theo)

 

Tính Không

 

Theo kinh điển, một Bồ Tát khi tu tập trí tuệ có hai điều rất quan trọng cần phải nhớ đó là:

 

“Không bao giờ từ bỏ chúng sinh và quán tưởng chân lý tất cả các pháp đều là không.”

 

 Bây giờ chúng ta cố gắng tìm hiểu khái niệm về tư tưởng Không rất quan trọng này. Trước hết qua ngữ nguồn tiếng Phạn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn phần nào, với ngữ nguồn từ “Không” thật dễ dàng trở thành đồng nghĩa với Vô Ngã. Tiếng Anh gọi là Emptiness, còn tiếng Phạn gọi là sunyata. Theo ngữ nguồn chữ sunya phát sinh từ ngữ căn SVI, có nghĩa là phình lên, nở ra. Nói một cách nghiêm túc sunya có nghĩa những gì liên hệ đến tính chất phùng ra.

 

Vào thời quá khứ xa xưa, bậc tiền nhân với bản năng nhạy bén về thực thể mang tính chất biện chứng, thường hay dùng một ngữ nguồn để diễn tả hai mặt đối lập trong cùng một trạng huống. Họ hiểu rõ ràng về tính thống nhất của những mặt đối lập cũng như hiểu về sự tồn tại của mặt đối lập. Thực thế ngữ nguồn SVI của tiếng sanskrit không khác gì với ngữ nguồn KY của tiếng Hy Lạp, dường như để biểu lộ tư tưởng là những gì ‘phùng ra’ bên ngoài thì ‘trống rỗng’ bên trong. Điều này thường hay tìm thấy trong ngôn ngữ học về tỷ giảo. Cũng có thể tìm thấy trong tiếng la Tinh chữ cumulus và chữ caulis cùng với nghĩa phùng ra. Tương tự chữ trống rỗng cũng có thể tìm thấy trong ngữ nguồn koilos tiếng Hy Lạp, và cavus trong tiếng La Tinh. Do đó bản ngã chúng ta phùng ra to lớn ra là do ngũ uẩn tạo thành, nhưng nó trống rỗng ở bên trong, bởi vì không có cái ngã thực sự cốt lõi bên trong. Hơn thế nữa ‘phùng ra’ cũng còn có nghĩa ‘tràn ngập với vật xa lạ’, thí dụ người đàn bà ‘phùng ra’ khi có mang bầu thai – tương tự người Hy Lạp dùng cùng một ngữ nguồn kyo để diễn tả trường hợp này – người phụ nữ mang nhiều vật xa lạ trong người, nó không phải những gì thật của chính bà ta. Cùng với khái niệm trên, bản ngã không mang theo cái gì thuộc về mình, tất cả do những dị chất làm phùng ra mà thôi. Nó giống như thai nhi là dị chất, vật khác lạ không thuộc vào cơ thể cần phải đẩy ra ngoài.

 

Điều đáng tiếc những ý tưởng hàm súc chứa đựng trong chữ sunyata đã mất đi khi diễn tả nó bằng chữ emptiness, từ đó đưa đến vô số hiểu nhầm. Đặc biệt đối với những người mới học qua Phật giáo thường cho tính không có nghĩa không có gì hết hay hư ảo giống như Niết Bàn. (1)


Mặc dù trong nghệ thuật Phật giáo tính không thường được biểu tượng bằng vòng tròn trống không, nhưng nó không có nghĩa ảo vô hay trống rỗng ở Phật giáo. Nó là từ biểu hiện tư tưởng vô ngã, hay hủy diệt vọng ngã. Trong Phật giáo những khái niệm thường có tương quan lẫn nhau, nhưng chúng ta không biết cách nối kết chúng lại với nhau. Những tương quan tư tưởng này xin trình bày bằng đồ thị sau:

 

 Trí Tuệ

 


 A Tì Đạt Ma Chư Pháp Bản Thể (Tự Tính)









 Vô Ngã

 

 Không




 Trí Tuệ Viên Mãn Tính Không 

 

Bồ Đề Đạt Ma người Ấn Độ hay người Ba Tư (Điểm này chưa được xác định rõ ràng) đến Trung Hoa vào khoảng năm 500 sau kỷ nguyên, đã diễn đạt ý nghĩa từ tính không một cách cô đọng súc tích như sau:

 

Tất cả các Pháp đều là không, vì thế mọi ước mong, tìm kiếm đều là không.”

 

Theo cách sử dụng ngôn ngữ trong Phật giáo, từ KhôngTính Không biểu hiện tính chất phủ định hoàn toàn một cách triệt để thế gian này khi thực hành Trí Tuệ. Điểm cốt lõi, chính yếu của tư tưởng này là phủ nhận từ bỏ hoàn toàn, rút lui và xa lìa hoàn toàn thế gian xung quanh chúng ta về tất cả mọi mặt mọi lãnh vực.


Những nhà luận sư A Tì Đạt Ma hiểu tường tận từ Không, tuy thế họ dùng nó rất thận trọng. Trong kinh điển bằng tiếng Pali chỉ sử dụng từ này trong một vài trường hợp. Trường phái Tân Trí Tuệ dùng từ không như chìa khóa thần có thể mở mọi cánh cửa, và cũng được Long Thụ triển khai một cách rõ ràng thành nhận thức luận. Tính Không ở đây có nghĩa sự đồng nhất giữa xác định và phủ định. Hệ thống tư tưởng này đưa ra hình ảnh sống động, toàn diện trong nghệ thuật sống, một bàn tay gây dựng lên còn tay kia đập phá nó xuống. Thánh nhân Phật giáo còn được mô tả như người thiếu phụ Penelope (2) tiết trinh trung thành kiên nhẫn chờ đợi chàng dũng sĩ Ulysses khải hoàn trở về. Người thánh nhân đó không bao giờ khẳng định cũng như phủ định bất cứ điều gì. Vì thế nếu ông ta khẳng định điều gì, tất sẽ phải phủ định nó, và khi nói rằng ‘không’ cũng phải nói là ‘có’ cùng một lúc.

 

“Tính Không” là trạng thái nằm ngay giữa xác định và phủ định, có và không, hiện hữu và không hiện hữu, vĩnh cửu và hủy diệt. Manh nha tư tưởng này tìm thấy trong những lời thuyết giảng lúc ban đầu, và được kinh điển mọi trường phái truyền lại ngày nay. Phật đã nói với Katyayana rằng:

 

Con người thế gian thường tư duy trên hai điều có và không, ‘Có’ là một cực đoan, và ‘không’ cũng lại là cực đoan khác. Con người thế gian thường bị đóng khung giữa hai cực đoan này. Thánh nhân là người cần phải vượt lên trên hai phạm trù này. Cũng để tránh hai cực đoan Như Lai giảng dạy giáo lý nằm giữa hai thái cực và là nơi có thể tìm thấy chân lý. Giáo lý đó là Tính Không”.(3)

 

Tất cả mọi vật đều không, đấng tuyệt đối cũng là tính không. Chính vì mọi vật mang tính không, Niết Bàn và thế gian đồng nhất tính, có nghĩa không khác biệt nhau.(4)

 

Giáo lý vô ngã rõ ràng không gíống với những quan niệm thông thường. Do đó những nhà luận sư của trường phái Cổ Trí Tuệ đã công nhận những mâu thuẫn có thể giảm thiểu tới mức tối đa qua cách phân biệt giữa hai thánh đế: Thắng nghĩa đế còn gọi Chân đế tức là chân lý cùng cực bao gồm tất cả các pháp, và Thế Tục Đế tức là những sự thật nói về con người và sự vật. Tư tưởng Thắng nghĩa (Ultimate) của trường phái Cổ Trí Tuệ rất giống như tác dụng của các nguyên tử, tế bào và các vật tương tự, hay bị quên lãng trong đời sống hằng ngày, nhưng lại được các nhà khoa học quan tâm đến xem như vấn đề có giá trị. Trong khí đó trường phái Tân Trí Tuệ đi một bước xa hơn về khái niệm Thắng Nghĩa Đế, có nghĩa trong tính không có thể tìm thấy sự tương quan giữa đấng tuyệt đối và thực thể cùng cực. Theo trường phái này Thắng nghĩa đế không còn ý nghĩa chân lý mang tính chất khoa học, mà là chân lý mang tính chất huyền bí. Trong ý nghĩa này tất cả những gì chúng ta biểu lộ bằng ngôn ngữ rõ ràng đều không phải là chân lý cùng cực. Như thế tính không không thể nào trở thành đối tượng mang tính chất tuyệt đối của tín ngưỡng. Chúng ta không thể đạt đến cảnh giới đó, và cho dù có đạt đến đi nữa, chúng ta không nhận ra được nó, bởi vì nó không có hình tượng để phân biệt. Mọi giáo lý ngay như Tứ Diệu Đế, đi đến cùng cực của nó cũng chỉ là hư ảo, là cái gì thuộc vô minh. Mọi lý thuyết phủ trùm lên trên hào quang ngôn ngữ bất tận ý về đấng tối cao, chỉ nói lên phần nào chân lý, trong ý nghĩa giải thích sao cho phù hợp với căn cơ quần chúng để có thể hiểu về những kinh nghiệm tinh thần. Để phù hợp với tài năng cũng như khí chất mỗi người, giáo lý cần phải luôn luôn biến đổi và vô giới hạn.

 

Giáo lý về tính không thì thường được diễn tả bằng những tỷ dụ. Trường phái Cổ Trí Tuệ thường hay so sánh thế gian xung quanh chúng ta như khối bọt bèo, bong bóng, ảo ảnh, giấc mơ, hay màn ảo thuật. Những tỷ dụ có mục đích đánh động vào tâm thức tỉnh ngộ để thấy rằng thế gian này có tính chất tương đối không quan trọng, vô giá trị, ảo vọng và không thực. Những thi nhân bên trời tây đôi khi cũng dùng tỷ dụ trong cùng ẩn ý qua những vần thơ sau:

 

Con người chạy theo vẻ đẹp cao sang

 Như bọt bèo cuồn cuộn theo dòng thời gian

 Bồng bềnh theo năm tháng

Cứ thế nổi lên chìm xuống rồi tan đi

Mãi mãi và vô tận.”

 

Hay trong bài thơ nổi tiếng khác:

 

“Thế gian huyễn ảo vô cùng

Chẳng qua là ảo ảnh

Những nụ cười sung sướng

Giọt nước mắt đau thương

Ánh sáng huyền ảo

Dòng đời giả dối

Chân thật nơi đâu

Chỉ có đấng trên cao.”

 

Đến khi trường phái Tân Trí Tuệ xuất hiện ra đời, cũng so sánh và dùng các từ như giấc mơ, âm vang, hình bóng, ảo ảnh, hay màn ảo thuật để biểu hiện các pháp , nhưng mang tính chất kỹ thuật nhiều hơn. Riêng chỉ có Đấng tuyệt đối không lệ thuộc vào bất cứ vật gì trên thế gian, là thực thể cùng cực cao nhất. Còn những vật khác đều có tính chất tương đối, lệ thuộc lẫn nhau, tính chất hiện hữu chỉ tồn tại qua suy tưởng về sự liên hệ đến những vật khác. Vì tự thể chính những vật này chẳng là gì cả, không thể tồn tại riêng rẽ một mình. Như Candrakirti (5) đã nói:”Tiền nợ vay mượn không phải là vốn của bạn” (6)

 

Tuy nhiên nếu bảo rằng mọi vật là “vô tự tính” và không có thực như “Người con gái đồng trinh khắc trên đá”(7) và cho đó là tính không thì làm cách nào chúng ta có thể nhìn, nghe, và cảm thấy được những vật xung quanh? Những tỷ dụ về giấc mơ v.v mang mục đích trả lời cho câu hỏi trên. Chúng ta nhìn một màn ảo thuật, hay một ảo ảnh, nghe tiếng âm vang, mơ về một giấc mơ, và có lẽ chúng ta đều biết rằng tất cả những hình ảnh trên màn ảo thuật đều không thật, không có dòng nước thật trong mộng tưởng, tiếng âm vang không đến từ giọng nói con người, và những đối tượng chúng ta yêu, ghét và sợ hãi trong giấc mơ thực sự đều không có.

 

Những hiểu lầm về khái niệm tính không trong tư tưởng Trung Quán có thể tránh được, nếu biết đặt đúng trọng tâm cách sử dụng những danh từ có cùng ý nghĩa với tính không. Một trong những chữ đồng nghĩa hay được sử dụng nhiều nhất là “bất nhị”. Trí Tuệ Viên Mãn phủ nhận tư tưởng nhị nguyên và cho rằng, khách quan không khác với chủ quan, Niết Bàn không khác với thế gian, cái gọi là có không tách biệt xa rời với cái gọi là không. Phân biệt và đa dạng hóa là chỉ dấu của vô minh. Ngoài ra có quan niệm khác gọi tính không là Chân Như, có nghĩa chúng ta nhận cái chân thực nó là như thế không thêm không bớt không áp đặt lên trên nó những quan niệm nào khác.

 

Những triết gia theo trường phái Đại thừa đứng trên quan niệm đấng tuyệt đối hay quan niệm hủy diệt hoàn toàn bản ngã khi mang ý định mô tả về bản thể vũ trụ, tuyên bố rằng không còn mâu thuẫn và những điều vô lý khi nói về trí tuệ viên mãn. Nếu bảo rằng mô tả thế gian dưới con mắt thượng đế là hợp lý và có ý nghĩa, thì cũng có thể nói những điều thuyết giảng trong kinh điển Đại thừa là hợp lý và có ý nghĩa. Hai triết gia Eckhart và Hegel đã có tham vọng làm công việc tương tự như thế. Những tác phẩm hai ông viết cũng bày tỏ quan niệm muốn hiểu rõ về ý nghĩa thượng đế không phải là điều dễ dàng. 

 


Chú thích:

 

(1) Một trong những cái oái oăm của lịch sử, Phật giáo là hệ tư tưởng không ưa thích buôn bán, không có tính chất thương nghiệp, thế mà lại phải mang trách nhiệm tạo tác ra dụng cụ mà nền thương nghiệp hiện đại không thể nào phát triển nếu không có nó. Nếu không có phát sinh khái niệm về số không, những thương gia, nhà ngân hàng, nhà thống kê chắc phải khốn đốn về mọi mặt, và công việc tính toán chắc cũng không được trôi chảy. Vòng tròn nhỏ mà chúng ta gọi là số không, được biết bởi người Á Rập vào khoảng năm 950 sau kỷ nguyên như là shifr, trống rỗng, và mãi đến năm 1150 khái niệm về số không mới xuất hiện ở Âu Châu, tiếng La Tinh gọi là cifra, ở Anh ngữ khởi đầu gọi là cypher, sau đó thành zero; cypher có thể nói đồng nghĩa với sunya của tiếng Phạn. 

(2) Thí dụ này lấy từ chuyện cổ Hy Lạp, nói về thiếu phụ tên Penelope trung thành chờ đợi người chồng tên Ulysses trở về.

(3) Trích từ Samyutta-Nikaya II, trang 17, “Nam Truyền Đại Tạng Kinh” quyển thứ 13, trang 24.

(4) Trích từ “Trung Luận” phẩm “Quán Niết bàn” kệ thứ 19

(5) Candrakirti âm hán gọi là Nguyệt Xưng, học giả Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7, sau Long Thụ, thuộc hệ phái Prasangyaka của Trung Quán.

(6) Trích từ Prasannapada trang 263.

(7) Trích từ Kinh Nhập Lăng Già quyển thứ 3, Đại Chính Tạng Kinh quyển thứ 16, trang 603.

 

 

 

Giải Thoát

 

Theo quan niệm trường phái Tân Trí Tuệ, tư tưởng giải thoát được cô đọng trong ba phủ định _Bất khả đắc (Non-attainment), Bất khả thuyết (Non-asssertion), Bất khả ỷ tồn (Non-relying) và một khẳng định đó là Đấng Toàn Năng (Omniscience). Có rất nhiều cuộc thảo luận để chứng tỏ rằng không thể đạt đến Niết Bàn, không thể có giải thoát thực sự, và những lao lực khổ cực trường cửu tu tập của Bồ Tát không mang đến kết quả nào hết – Đó chính là tư tưởng Không “Theo tính không không có thành tựu lẫn không có sự không thành tựu”(1). Theo định nghĩa thế giới vô vi là trống rỗng, không có liên hệ với bất cứ vật gì khác, hoặc theo giải thích của kinh điển, thế giới vô vi tồn tại biệt lập hoàn toàn với tất cả. Do đó con người hầu như không thể nào có khả năng đạt đến, có được hay liên hệ đến cảnh giới vô vi. Hơn thế nữa con người chúng ta không bao giờ nhận biết rằng chúng ta đã đạt đến Niết Bàn. Tính Không là cái không có đặc tính, dấu vết, không có chút gì để nhận ra, và vì thế chúng ta không bao giờ biết rằng có nó hay không có nó.

 

Bất khả đắc nói một cách nôm na dễ hiểu là khái niệm có ý nghĩa tương đương như tự hủy diệt, tự quên mình, từ bỏ hoàn toàn bản ngã. Đó là đặc điểm nói lên đức tính cao quý nhất trong tất cả các đức tính, chúng ta phải hiểu rằng khi con người bắt đầu cảm nhận được đức tính này là khi không còn nó nữa. Nó cũng giống như đức tính giản dị và khiêm tốn. Chúng ta không thể nào làm ra vẻ có được đức tính giản dị một cách tự nhiên, hoặc giả chúng ta tự cho mình là khiêm nhường mà trong lòng không mang theo niềm kiêu hãnh. Chúng ta cũng không thể nói là đã đạt được Niết bàn mà không tạo sự phân biệt giữa bản thân và Niết bàn, giữa trạng thái hiện tại và trạng thái trong quá khứ, hoặc giả giữa Niết bàn và cái không phải Niết bàn. Chính những phân cách này là dấu hiệu của vô minh, là cái đẩy chúng ta ra xa khỏi bờ bên kia hay bỉ ngạn.


Chính trong việc dùng ngôn ngữ để diễn đạt hay hàm chứa tính chất xác định bất cứ điều gì đều ẩn chứa một cái gì không ổn thỏa. Chúng ta cũng cần phải ghi nhận rằng Bất Khả Thuyết là một trong hệ tư tưởng của giải thoát, nhưng không đưa ra lý thuyết khẳng định hay tư tưởng mang tính chất hình nhi thượng học. “Giáo lý cao siêu này không phải chủ đề để các nhà lý luận tranh cãi.”(2) Giáo lý về tính không không dạy chúng ta phải ủng hộ lý thuyết này để chống lại lý thuyết kia, nhưng phủ nhận mọi lý thuyết. Vì thế hoàn toàn không phù hợp với quan điểm của trường phái Tân Trí Tuệ, nếu chúng ta cho rằng tính không như một đấng tuyệt đối nằm bên trong thế giới hữu vi, như nền tảng cho thế giới hữu vi, như cái neo cho chúng ta. Chắc hẳn không phải như vậy, bởi vì “Niết Bàn không khác gì với thế giới sinh tử luân hồi”.(3) Ví bất khả thuyết không phải tư tưởng xa lạ cách biệt tất cả. Thật là nhầm lẫn để bảo rằng tính chất nhất nguyên luận hình nhi thượng học đối nghịch với đa nguyên luận của trường phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Thật ra giáo lý Trung Quán thường hay đề cập vấn đề này trong sách giáo khoa về Triết học. Càng sai lầm hơn khi cho rằng nhất(một) chống lại đa (nhiều), vì chủ trương như thế đi nghịch lại tinh thần giáo lý phủ nhận nhị nguyên luận. Tư tưởng Long Thụ cao thâm hơn cách giải thích mang tính chất triết học. Tính không là trạng thái không có khác biệt giữa khẳng định và phủ định, chân lý vượt thoát đi mất, hay không còn nữa khi chúng ta bảo “nó là thế này”, và khi chúng ta bảo “nó là thế kia”, vì nó nằm đâu đó giữa hai tình trạng này.

 

Người ở trạng thái tính không không có thái độ xác định lẫn phủ định đối với mọi vật. Giáo lý của Long Thụ không bao giờ là giáo lý hình nhi thượng học, trái lại nó đưa ra thái độ thực tiễn bất khả thuyết, và chỉ có tư tưởng này mới mang đến niềm an vui vĩnh cửu. Vì tư tưởng này không đi nghịch lại tinh thần của bậc thánh nhân để tranh đấu, chống lại cái này hoặc đồng ý với cái kia. Tâm trạng bình thản của thánh nhân chân thực là gốc rễ của lý luận Trung Quán. Tư tưởng này được trình bày tường tận ở những kinh điển có từ trước thời Long Thụ. Chẳng hạn như ở câu 796 cho đến 803 ở bộ kinh tối cổ Sutta Nipata và trong kinh Samyutta Nikaya Phật có nói như sau:

 

“Ta không chống lại thế gian, nhưng thế gian chống lại ta, vì những ai hiểu pháp không bao giờ chống lại thế gian. Vì những gì người hiểu biết bảo là không có trên thế gian, đó cũng là điều ta dạy là không có. Và những gì người hiểu biết bảo là hiện hữu trên thế gian, cũng là điều ta dạy là có.”(4)

 

Mục đích lý luận của Long Thụ không mang chủ đích để đi đến quy kết hay kết luận nhất định nào đó, mà là phủ nhận mọi quan niệm và bảo rằng mọi tín điều cố định đều không hợp lý.

 

Một đoạn văn trong Tân Ước Thánh Kinh có viết ngắn gọn như sau:

Người con trai của người không có chỗ cho cái đầu được nghỉ ngơi

Chính vì có vô số cách để diễn đạt tư tưởng, trường phái Tân Trí Tuệ đưa ra tư tưởng “bất khả ỷ tồn” (non-relying). Đầu mối tư tưởng này phát sinh cũng do tầm quan trọng niềm bất an chiếm chỗ trong đời sống sinh hoạt con người. Chính nỗi bất an khiến chúng ta luôn luôn phải bám víu vào những cái không thật của chính chúng ta. Chúng ta bám víu vào người này đến người khác, và không có gì kinh hoàng bằng khi cảm thấy hoàn toàn cô độc, khi nghĩ đến tình cảnh không có chỗ để tìm thấy sự an tịnh. Để được giải thoát chúng ta phải từ bỏ những vật chi viện phụ thuộc từng cái một, và cần phải quan sát không khoan nhượng không hoảng hốt về sự trống rỗng trong linh hồn chúng ta. Cho đến khi chúng ta không còn phải dựa vào mọi trợ giúp từ bên ngoài, không còn bất cứ niềm kỳ vọng vào tha nhân, và khi ấy chúng ta có thể nói “ngoài trí tuệ viên mãn không có gì đáng để dựa vào” trạng thái này còn được gọi là tính không

 

Từ quan điểm tích cực, giải thoát còn được gọi là Nhất thiết trí, có nghĩa thông suốt mọi sự. Niềm ước vọng đạt đến trí tuệ viên mãn có lẽ tạo sự tò mò nơi chúng ta, cho nên cần có vài lời giải thích thêm. Đây là tư tưởng triển khai trên hai bình diện, một mặt Niết bàn hay Phật tính là mục tiêu người tín đồ nỗ lực tu tập để đạt đến, mặt khác tư tưởng này nhấn mạnh đến Nhất thiết trí xem như là thuộc tính của Phật. Tư tưởng thứ nhất như đã trình bày biểu hiện nơi lý tưởng bồ tát. Tư tưởng thứ hai trong ý nghĩa nào đó Đức Phật được xem như đấng thông suốt mọi sự. Theo người Phật giáo đại thừa, nói một cách nghiêm chỉnh nhất, Đức Phật là đấng toàn trí, có nghĩa Phật có năng lực nhận thức thông suốt đúng đắn mọi vật với đầy đủ chi tiết. Đương nhiên với tri thức hữu hạn không thể nào hy vọng hiểu hết công việc tri thức vô hạn. Tư duy của Phật chắc hẳn không thể nào giống về phẩm chất tư duy của chúng ta. Có nghĩa tư duy của Phật mang tính chất tuyệt đối, vì đó là tư duy tuyệt đối của đấng tuyệt đối. Nói một cách đúng đắn, tư duy của Phật không thể nào tư duy như tất cả con người bình thường, bởi vì tư duy của đấng vô vi không thể nào nằm trong thức uẩn thuộc ngũ uẩn, hơn nữa tư duy này không tách biệt đối tượng, mà lại đồng nhất với đối tượng. Dù sao nhất thiết trí vẫn không phải thuộc tính của Phật trong khi Phật hiện hữu với dạng con người, hay “Trang nghiêm thân”. Nhất thiết trí phải kết hợp với Phật như nguyên lý thuần túy tinh thần, có nghĩa thuộc vào Pháp thân Phật. Không phải tất cả tín đồ Phật giáo đều nghiêm chỉnh tin rằng tính chất nhất thiết trí của Phật là yếu tố cần thiết để tạo quyền uy cho tín ngưỡng. Nếu như Phật là đấng biết đúng tất cả mọi điều cần thiết cho giải thoát, điều này là yếu tố đủ để chứng tỏ Phật là người hướng dẫn xứng đáng.

 

Trong vài đoạn kinh điển bằng tiếng Pali, Phật rõ ràng phủ nhận mọi nhất thiết trí khác. Mặt khác Phật giáo Đại thừa giải thích rằng nguyên thủy Nhất thiết trí của Phật bao gồm kiến thức được xem như phương tiện để đạt đến cõi trời và giải thoát, Phật tinh thông tất cả mọi việc không sót điều gì bao gồm cả mảng tri thức không quan yếu như số côn trùng có trên thế gian. Hơn nữa nếu Phật thiếu sót điều này, có thể bị những vật không thuộc tri thức của Phật làm cản trở, không đủ phẩm chất xem như đấng toàn trí.

 

Hãy để sang một bên vấn đề ý nghĩa triết học, từ quan điểm thực tiễn công việc theo đuổi tìm kiếm Nhất thiết trí thì tương tự đồng nhất trong việc truy cầu tự hủy diệt bản ngã, và vì thế thật có ích xem nó như mục tiêu cho đời sống tinh thần. Nếu nhìn từ bản chất con người, chúng ta có lẽ phải công nhận rằng chúng ta không mang theo ước vọng đặc thù để trở thành toàn năng toàn trí.


Đối với hành giả bình thường đi tìm kiếm chân lý, chắc chắn Nhất thiết trí không phải là một trong những thành quả duy nhất hay phần thưởng mà người hành giả thực sự mong muốn. Trạng thái tồn tại mà hành giả mong mỏi trong công việc tìm kiếm học hỏi về pháp, có thể tóm tắt thành ba điểm sau đây:


(1) Bảo vệ tránh khỏi đau khổ về xác thịt.

(2) Giải thoát khỏi chấp trước vào bản ngã từ đó phát sinh ra lo âu, bất an như sự chết.

(3) Sau cùng với niềm mong mỏi trở thành trung tâm điểm hay nơi trú ngụ của sức mạnh thuần khiết và thanh tịnh để có thể xua tan và vượt qua thế gian trần tục.

 

Theo một số văn kiện lịch sử cho thấy những đặc tính nêu trên là những động lực khích lệ tu hành cho số đông chúng tăng trong tăng đoàn Phật giáo ở Ấn Độ vào thời xa xưa. Lý tưởng thời đó là trạng thái vô ưu có nghĩa không còn lo âu, buông xả mọi vật, cũng có thể nói tương đương với lý tưởng của học phái khắc kỷ (stoic) được gọi là apatheia (5). Do đó tư tưởng Trí tuệ viên mãn, Nhất thiết trí mà Phật giáo đại thừa nhấn mạnh mang tính chất tương phản đến quan điểm nêu trên. Vì nếu lúc nào cũng mang ước vọng trốn thoát thế gian ô uế trần tục này không khác gì lối nghĩ tự hủy diệt, một giấc ngủ vĩnh cửu thật sự không mộng mơ. Trong khi đó Phật là đấng luôn luôn thức tỉnh, theo ngữ căn BUDH của tiếng Phạn có nghĩa là thức tỉnhnhận biết. Đó là lý do tại sao Phật giáo đại thừa nhấn mạnh đến Nhất Thiết Trí và xem như mục tiêu cho tất cả mọi người.

 

Cũng cần nhấn mạnh thêm một điều đức tính Nhất Thiết Trí nằm ở trong bản ngã cái tôi nhưng lại không có một tí dục vọng nào về nó. Bởi vì bản năng chúng ta không thôi thúc chúng ta tìm kiếm mong đạt đến Nhất Thiết Trí. Cho dù gọi nó là mục tiêu của đời sống nhưng trên thực tế hoàn toàn khác biệt với thể chất tự nhiên của con người chúng ta. Tại điểm này rõ ràng phải trực diện với mâu thuẫn: Như một tín đồ, mục tiêu con đường mà tôi theo đuổi phải có hấp lực đối với tôi, nếu không cái con người tôi hay bản ngã không thôi thúc nỗ lực đạt đến nó. Tuy nhiên mặt khác mục tiêu cũng phải không có hấp lực đến với tôi, vì thế cái con người tôi bản ngã tôi mới cố gắng để đạt đến nó. Tuy nhiên mục tiêu ở nơi con người tôi đang hiện hữu và tất cả những gì tôi biết và hiểu đều không thực, cái con người tôi hiện tại không thể đạt đến đến mục tiêu được. Thật là làm trò cười cho thiên hạ khi giả vờ nghiêm chỉnh bảo rằng bản thân muốn biết tường tận chi tiết về toàn thể vũ trụ. Khi so sánh với cả vũ trụ rộng lớn bao la, toàn thể nhân loại không khác chi củ nấm mọc bên trên hòn đá ngoài biển Đại Tây Dương. Như thế con người tôi thật nhỏ bé biết chừng nào. Vì thế Nhất thiết trí hay đấng toàn năng toàn trí và tôi không thể nào là một được. Nhưng khi con người tôi không còn là tôi nữa tất sẽ có cái gì xảy ra.

 

Thật ra không dễ dàng chấp nhận và thỏa mãn với lý luận đầy mâu thuẫn này, vì nó đi nghịch lại bản tính bình thường con người chúng ta. Đối với con người bình thường mục tiêu là cái gì có thể nắm bắt được như con bươm bướm nằm trong lưới, hay tiền lợi tức sinh ra trong quỹ tiết kiệm trong ngân hàng. Mượn lời Eckhart để diễn đạt con người muốn được giải thoát theo cách cuộn tròn người trong tấm mềm rồi chui dưới ghế trường kỷ.  Để điều chỉnh lỗi lầm cố đạt đến mục tiêu quá xa vời không thực, bằng cách nói rằng mục tiêu không là gì cả, trống rỗng, hay là đồng nhất giữa khẳng định và phủ định. Cũng có thể nói mục tiêu là tất cả, nhưng không phải bao trùm lên hết tất cả, nhưng lại là tổng cộng gom tất cả lại cả những cái chung và cái riêng của những cá thể. Đây là điều vượt lên trên tư duy bình thường, đối với đấng nhất thiết trí không có khác biệt giữa chủ thể và khách thể, giữa khách quan và chủ quan. Làm mọi việc nhưng không ý thức làm việc đó. Nghĩ đến mọi điều nhưng không để ý thức đến một điều gì hết. Nỗ lực để tìm hiểu tất cả mọi vật, dù không bao giờ đạt đến kết quả vẫn thỏa mãn. Thật là điều kỳ lạ, để được giải thoát chúng ta phải hành sử để quên chính mình đi.


Chính những người không tự tu tập lại chứng đắc Nhất Thiết Trí, vì chính người đó đang tự tu tập Nhất Thiết Trí và có lẽ đang đi vào Nhất Thiết Trí.”(6)

 

Chú Thích:

(1) Trích từ Kinh Bát Nhã Tâm kinh.

(2) Trích từ Kinh “Đại Trang Nghiêm Luận” quyển 1, Đại Tạng Kinh quyển 4, trang 257.

(3) Trích từ Trung Luận, phẩm Niết Bàn, câu kệ thứ 19.

(4) Trích từ Samyutta-Nikaya III, trang 138; Nam Truyền Đại Tạng kinh quyển 14, trang 216.

(5) Apatheia có nghĩa trạng thái cảnh giới không còn dao động do những cảm xúc, phiền não, lo âu tác động đến.

(6) Trích từ kinh Đại Bát Nhã quyển 539, Đại Tạng Kinh quyển thứ 7, trang 771.

 

 

(Còn tiếp)

Edward Conze - dịch giả Tùng Sơn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn