- Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông

25/02/201112:00 SA(Xem: 7809)
- Tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông


TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC TRẦN THÁI TÔNG

 

Như Hùng


(Tiếp theo kỳ trước)

Tư tưởng Trần Thái Tông cao thâm diệu vợi, vượt ra ngoài giới hạn so đo. Không nằm ở nơi biên kiến, nhị nguyên, đối tượng nhận thức. Nó chặt tan, làm đóng băng phạm trù ngôn ngữ, mọi ngôn từ trở nên bế tắt, bất lực. Nó thâm nhập vào từng dòng lưu chuyển, làm thức dậy bản thể tịch nhiên, hòa nhịp cùng giai điệu giải thoát, cất lên khúc ca chứng đạo, làm rung chuyển núi đồi tâm thức, vỡ tung vọng niệm lăng xăng, làm sống lại bản thể bất biến, vô tận, xưa nay.

 Đường về trăng sáng ít ai đến

Một ánh trăng đêm lạnh khắp miền.

(Hồi trình nguyệt hạ nhân hy đáo

Nhất đạo thiềm quang đại địa hàn)


- Niệm Phật Luận: (Bàn về niệm Phật)

"Niệm Phật là điều khởi dậy do tâm. Tâm khởi dậy điều thiện tức là ý nghĩ thiện. Ý nghĩ thiện khởi dậy thì thiện nghiệp báo lại. Tâm khởi dậy điều ác tức là ý nghĩ ác. Ý nghĩ ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo. Như gương hiện ảnh, như bóng theo hình. Cho nên thiền sư Vĩnh Gia nói rằng: "Ai chẳng có điều nghĩ, ai chẳng có điều nảy sinh" là nói về việc đó.

Nay kẻ tu hành muốn khơi dậy ý nghĩ chân chính để dập tắt ba nghiệp, cũng là nhờ công niệm Phật vậy. Niệm Phật dập tắt được ba nghiệp là cớ sao?

Vì rằng trong lúc niệm Phật thân thẳng ngồi ngay, không làm việc tà, như vậy là tắt được nghiệp thân. Miệng tụng lời chân chính, không nói điều xằng bậy, thế là tắt được nghiệp miệng. Ý chăm chú ở sự tinh tiến, không nảy sinh ý nghĩ tà, thế là tắt được nghiệp ý. Nhưng kẻ trí có ba hạng. Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, không phải nhờ thêm sự tu hành. Ý nghĩ là bụi trần không vướng một mảy. Ý nghĩ bụi trần vốn tịnh, cho nên nói " Như như không động tức là thân Phật". Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng và tướng không phải là hai, lặng lẽ tồn tại hằng thường. Tồn tại mà không biết đó là Phật sống.

Bậc trung trí ắt nhờ vào niệm Phật. Chú ý tinh cần, luôn luôn niệm mà không quên thì tâm mình ắt tự thuần thiện. Ý nghĩ thiện đã hiện ra thì ý nghĩ ác sẽ bị tiêu tan; ý nghĩ ác đã bị tiêu tan thì chỉ còn ý nghĩ thiện. Dùng ý nghĩ mà ý thức về ý nghĩ thì mọi ý nghĩ đều bị diệt hết. Khi ý nghĩ đã bị tiêu diệt ắt trở về chính đạo; lúc mệnh hết qua đời sẽ được niềm vui cõi niết bàn. " thường lạc ngã tịnh" là đạo của Phật.

Kẻ hạ trí miệng chuyên cần niệm lời Phật, lòng mong thấy hình tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước Phật, ngày đêm tu hành chăm chỉ, không thoái chí thay đổi, như vậy đến khi mệnh hết qua đời sẽ theo ý nghĩ thiện mà được sinh ở nước Phật; sau đó lãnh hội được chính pháp mà chư Phật nêu ra và chứng được bồ đề cũng được Phật quả."Đổ Văn Hỷ dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển thượng, trang 85”.

Ông đề cập đến thân, khẩu, ý, ba vấn đề quan trọng trong việc gây nên thiện nghiệp hay ác quả, cũng như thành tựu sự nghiệp giải thoát. Một khi ta tăng trưởng lòng từ bi đến với muôn loài, dâng yêu thương đến muôn vật, từ tâm của ta chan hoà khắp muôn nơi, cũng là lúc ta khép lại phần nào ác nghiệp. Khi ta kiểm soát tâm ý không dong ruỗi trong phiền não, khổ đau, không tìm cách tiêu diệt, gây hại đến muôn loài, khiến ta lúc nào cũng nhẹ nhàng an lạc thảnh thơi, cũng là lúc trí tuệ của ta được dịp bừng sáng. Khi ta hành trì gìới luật, những hưng khởi, tác động thường xuyên được kiểm soát, cũng là lúc ta tự trang nghiêm chính mình với sự sáng soi của trí tuệ tỉnh thức, dâng hiến đến cho mình và cho đời đoá hoa an lạc, thường tịnh.

Giáo lý niệm Phật thịnh hành vào thế kỷ thứ mười một, phù hợp với tất cả mọi căn cơ nên ta dễ dàng tu tập trong mọi hoàn cảnh. Niệm Phật đến khi nào đạt được nhất niệm, chỉ nghe và biết tiếng niệm Phật vang dội mãi ở trong tâm mình, niệm Phật cho đến khi huân tập, thâm nhập, tàng chứa vào trong tạng thức. Hành động nào cũng có Phật, suy tư nào cũng thấy Phật ngự trị, cho đến khi Phật tánh ấy lộ diện hoàn toàn, thì lúc lâm chung mới đủ năng lực vãng sanh về cực lạc. Dĩ nhiên về đến đó không có nghĩa ta kết thúc hành trình tu tập, mà cần phải tiếp tục dụng công mới mong đạt được quả vị giải thoát.

Tịnh độ, không phải pháp môn dành cho người đang sống chỉ lo hướng về cõi chết, và ở tận mãi phương tây xa xôi nào đó. Dù chết, chặng đường mà tất cả chúng sanh đều phải đi qua, nhưng nếu ta dốc lòng chuẩn bị cho mỗi việc chết, như thế sự có mặt của ta trong cuộc đời nầy hóa ra vô vị sao? Bởi lẽ sống chết đan xen lẫn nhau, trong sự sống có bóng dáng của chết xen vào, và chết không phải sự kết thúc chấm dứt một hành trình. Nó chỉ là chặng đường đến đi, cái còn lại vẫn là nghiệp quả ta góp nhặt, cưu mang theo, dù đó là thiện hay ác nghiệp. Đó là định luật, chân lý bất di bất dịch, không cách nào chạy trốn hay xua đuổi được, ta chỉ có thể theo đó thăng hoa làm tươi đẹp, an lạc, giải thoát. Tất cả mọi con đường đi đến giải thoát trong đạo Phật, nhằm giải quyết cái hiện tại ngay bây giờ và ở đây, những nổ lực phải nổ lực ngay từ đây và trong mỗi phút giây bây giờ của đời sống, không đợi chờ đến ngày mai. Nếu ta không an lành trong hiện tại, nếu ta cứ mãi âu lo, phiền muộn khổ đau, với chuổi dài nối kết của thời gian lẫn không gian, với bản chất vô thường sinh diệt, có chờ chúng ta đến tận ngày mai ấy hay không?

Giá trị cùng ý nghĩa đích thực của sự sống nơi con người, không phải nhà cửa đồ sộ, tiền rừng biển bạc, quyền cao chức trọng, thông suốt cổ kim, mà là những tu tập, đóng góp, cống hiến sự an lành đến cho chính ta, tha nhân và muôn loài. Sự tỉnh thức, giải thoát được huân tập nơi nội tâm, là định hướng tốt đẹp cho hiện tại, tương lai và cũng là nghiệp lực mang theo cho hành trình tiếp nối khác. Ta không thể về thế giới cực lạc, khi trong ta chất đầy phiền não, khổ đau, và càng không có nghĩa miệng thì luôn niệm Phật mà tâm vẫn chạy theo trần cảnh, dong ruỗi mọi ngõ ngách. Dù cho Đức Phật A Di Đà phát nguyện độ tận hết thảy chúng sinh, được vãng sanh về thế giới của ngài, thì chúng ta cũng khó lòng đến đó được. Niệm Phật cho đến khi nào tự tánh A Di Dà bừng dậy, liên tục không gián đoạn ở trong tâm ta, thấy được tự tánh Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Công Đức, đạt được niệm Phật Ba La Mật. Lúc ấy Cực Lạc thế giới ở ngay hiện tiền, không cần phải chờ khi nhắm mắt xuôi tay. Ta cần phải tu làm sao cảnh gìới cực lạc hiện hữu trong từng suy tư, tác nghiệp, chỉ có điều này mới giúp ta vượt thoát, thăng tiến ngay trong hiện tại, khi ấy ta bước chân về đâu, nơi ấy biến thành tịnh độ. Lúc ấy, dù cho qúa khứ hiện tại tương lai mặc vần xoay chuyển, ta vẫn hiên ngang tự tại trong dòng biến hiện, nổi trôi.


- Ngữ lục vấn đáp môn hạ: (Ngữ lục hỏi đáp với học trò)

" Một hôm vua chơi chùa Chân Giáo, nhà sư Đức Thành nước Tống tiến lên hỏi:

Đức Thế Tôn chưa rời Đâu Suất đã giáng xuống vương cung, chưa lọt lòng mẹ đã độ hết thảy chúng sinh là thế nào? Vua đáp:

 Muôn sông có nước trăng muôn song

 Vạn dặm không mây trời vạn dặm.

Tăng nói:

 Chưa rời Đâu suất, lọt bào thai

 Chỉ bảo phân minh đã rõ rồi

 Đâu suất bào thai nay đã rách

 Dám mong phân giải một đôi lời.

Vua đáp:

 Mây sinh đỉnh núi bồng bềnh trắng

 Nước đến Tiêu Tương một sắc trong.

Tăng nói:

 Mưa tạnh, sắc non phơi

 Mây đi, đông sáng ngời.

 Thế nào là ẩn hiện như một?

Vua nói:

 Ngoài đứa con dòng dõi của ta

 Ai người dám bước vào đường ấy.

Tăng nói:

 Cổ kim không khác lối

 Thông đạt cùng một đường.

Bệ hạ cho rằng riêng mình Thế Tôn đắc đạo hay sao?

Vua đáp: 

 Mưa xuân không cao thấp

 Nhành hoa có ngắn dài.

 Tăng hỏi:

 Người người tự đầy đủ

 Kẻ kẻ vốn viên thành.

 Cớ sao Thế Tôn phải vào núi tu đạo?

 Vua nói: 

 Bởi bất bình, kiếm rời hộp báu

 Nhân chửa bệnh, thuốc xuất bình vàng.

Tăng nói: 

 Chớ để bụi bám mắt

 Đừng cắt nhọt trên thân.

Như phận kẻ học đạo còn phải có việc tu chứng nữa không?

Vua đáp:

 Nước chảy xuống đồi, không cố ý

 Mây ra khỏi núi, vốn vô tâm.

Tăng không đáp.

Vua lại nói:

  Đừng rằng "đạo" chính "tâm không"

 "Tâm không" cách "đạo" một trùng cửa quan.

Tăng nói:

Đã coi tâm là không thì cái gì là một trùng cửa quan?

Vua nhắc lại:

 Nước chảy xuống đồi, không cố ý

 Mây ra khỏi núi, vốn vô tâm.

Tăng không đáp.

( Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển Thượng trang 106-107)

Phút giây tuyệt vời nhứt đó là "Mạc vị vô tâm vân thị đạo. Vô tâm do cách nhất trùng quan." và "Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý. Bạch vân xuất tụ bản vô tâm". Tâm không và đạo biên giới ngăn cách một trùng cửa quan. Có đủ năng lực, nội công để đẩy bung cánh cửa nầy không phải một sớm một chiều và ai cũng có thể làm được. Cõi lòng phải thảnh thơi, an nhiên tự tại, như nước chảy mây trôi không vấn vương, níu bắt. Cần phải dụng công trong từng sát na, phải liên tục gõ cửa thì cửa mới mở. Đến khi nào thấy được bản thể của tâm cảnh, nhập lại hòa điệu thành một, cất lên khúc ca chứng đạo, vượt cả thời gian lẫn không gian, dịu mát như ánh trăng rằm soi chiếu, chọc thủng màn đêm tăm tối của vô minh phủ lấp bấy lâu nay.


Có một cái gì sâu xa trong tận cùng tâm thức bật dậy nổi lên, khiến ta nổ lực hướng theo. Khi ta không biết đoạn trừ tiêu diệt cái củ, thì cái mới không có cơ hội phát sinh, nếu không chấm dứt chuyển hoá phiền não khổ đau, thì an lạc giác ngộ không có cơ may trổi dậy, nếu không hất tung xô đẩy cái nầy, thì cái khác cứ nhập nhằng ở lại đó. Khi nào ta biết dẫn dắt, hoá thân chuyển đổi làm bạn đồng hành, hướng nó đi về điểm khác, không còn phiền lụy khổ đau, sống trong trạng thái an tịnh. Muốn bước vào cánh cửa không môn, tất cả hành trang đều phải để lại sau lưng, dù đó một niệm một ý bất chợt thoáng qua, một níu kéo vô tình thức dậy, cũng khiến ta bi đẩy ngược trở lại. Còn truy tìm Niết Bàn để chứng đắc, còn tham sân si, chấp chặt một điều gì, thì ta đều phải trả giá, bị trói buộc phải tốn công nhọc lòng tháo gỡ. Chặng đường để đến được cánh cửa vô môn ấy, ta phải làm sao hể đi là đến được, cất bước là đã phóng mình đến đích. Nó thật mau, thật gần mà cũng quan san cách trở, không phải một sớm một chiều đến được, khi trong ta đong đầy bao phiền muộn âu lo khổ sở. Làm sao và làm sao? Một câu hỏi chỉ có chính ta mới biết cách trả lời, tìm ra đáp số.


Khi Thái Tông soạn thảo Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, không phải để ông sám hối trong việc phế Hoàng Hậu Chiêu Thánh phong Thuận Thiên làm Hoàng Hậu, và càng không phải ông sám hối cho việc dòng họ nhà Trần cướp ngôi, giết chết tôn thất nhà Lý. Dĩ nhiên các tội lỗi ấy Thái Tông tự nghĩ, không riêng do Trần Thủ Độ gây ra, mà cả dòng họ và là tội lỗi, nhân quả, nghiệp báo của chính mình. Những điều đó đè nặng lên tâm tư, dự phần vào việc ông ngự chế ra sám pháp ấy. Nhưng ông không sáng tác ra sám hối nầy cho riêng một ai, và vì một ai. Ông tự sám hối tội nghiệp của mình đã tác tạo trong nhiều đời nhiều kiếp, và cũng vì tất cả chúng sanh. Nhưng trên hết đó là sự cảnh tỉnh, nhắc nhở, sách tấn cho mình và cho mỗi chúng ta trong việc thẩm định, quan sát, tư duy lại chính mình trong từng phút giây. Như ông đã nói : "tự làm lợi mình để làm lợi người".


Dù tư tưởng, văn phong của Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi trong sáng, cao thâm, siêu thoát, vẫn chưa được thịnh hành ở Việt Nam. Ngược lại bộ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (Lương Hoàng Sám) do vua Lương Võ Đế ở bên Tàu chủ trương, sáng tác, lại thịnh hành. Với mục đích dành cho Chư Tăng dùng để tụng sám hối cho bà hoàng hậu Hy Thị, đã nhảy xuống giếng tự tử và sau đó hóa thành con rắn mãng xà. Về sau nhờ sự chú nguyện, cùng năng lực của Đại Tăng bà được hóa kiếp siêu sanh.


Truyền thống văn hóa của Phật Giáo Việt Nam, cùng sự giác ngộ chứng đắc, mà thầy tổ cha ông để lại, đã trải qua mấy ngàn năm. Chừng đó cũng đủ để chúng ta làm hành trang tu tập, gạn lọc thân tâm để đi đến giải thoát mà không cần thiết phải chạy theo vay mượn, ngóng đợi bất cứ trào lưu, thời đại nào. Dĩ nhiên chúng ta có quyền dung hòa, kết hợp tư tưởng trong sự rộng mở, soi sáng tâm linh, cũng như trong việc tìm lại chính mình. Nhưng quyết không để mình bị lệ thuộc, nô lệ, dù đó là sự lệ thuộc vào tri giác. Đức Phật từng cảnh giác chúng ta, chỉ tin vào những gì do suy tư, thẩm thấu, do trí tuệ chính mình mang lại.


Về khía cạnh bản chất đặc thù, cùng sự tự hào về Dân Tộc tính, chúng ta cần phải duy trì, truyền bá, phát huy nền văn hoá dân tộc cho thật lớn mạnh. Cho dù ngàn năm qua bị người Tàu đô hộ, nhưng ông cha ta đã đẩy lùi sự đô hộ ấy hàng mấy thế kỷ trước. Không biết người Trung Hoa có dùng Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi của ta để trì tụng không?


Có lẽ Trần Thái Tông đã làm cuộc cách mạng, thay đổi phương pháp tu tập cho phù hợp với bối cảnh, tâm thức, xã hội lúc bấy gìờ, từ đó về sau hình thành hai thời công phu sáng và chiều, với sự kết hợp Thiền Tông, Tinh Độ, Mật Tông, thành phương pháp tu tập căn bản ở thiền môn? Như buổi sáng trước khi thức dậy, ta có giờ thiền tọa, xong rồi đến thời công phu khuya tụng Kinh Lăng Nghiêm, gồm có Ngũ Đệ và Thập Chú. Buổi trưa Cúng Ngọ, Quá Đường, Thọ Trai, Kinh Hành Niệm Phật. Buổi chiều có thời công phu chiều, tụng kinh Sám Hối Hồng Danh, Kinh A Di Dà, Mông Sơn Thí Thực, dâng cúng thực phẩm đến Cô Hồn Thập Loại, nhờ thần lực của chư Phật, Bồ Tát và nguyện lực của người trì tụng mà chúng sanh đó có một bửa ăn no đủ. Buổi tối có thời khóa tụng kinh A Di Đà. Và trước khi đi ngũ ta có giờ thiền toạ hoặc niệm Phật. Trong cuốn kinh Thiền Môn Nhật Tụng còn gọi Kinh Nhật Tụng, chúng ta dùng để tu tập mỗi ngày, sự kết hợp rõ nét lắm có cả Thiền, Tinh, Mật.


Thiền tọa giúp ta tỉnh thức, đạt được chánh định, khai mở nội tâm phát sinh trí tuệ, mỗi khi chúng ta thực tập thiền cần phải có không gian và thời gian thích hợp, trong khi hằng ngày ta phải vất vã lo chuyện áo cơm, thời giờ dùng để tu tập thật là giới hạn. Ta có thể thực tập niệm Phật bất cứ nơi nào, ở đâu trong mọi hoàn cảnh, thay vì suy nghĩ mông lung, phiền não phát khởi, nhờ thường xuyên niệm Phật khiến tâm ta luôn được an lành. Năng lực, oai lực của thần chú trong Mật Tông giúp ta tiêu trừ, chuyển đổi nghiệp lực, trong tất cả chúng sanh ai lại không bị nghiệp chướng dẫn dắt, chi phối. Nếu ta biết cách áp dụng cho thật thích hợp trong từng hoàn cảnh thì sự tu tập của mình dễ thăng tiến và có kết qủa. Bởi lẽ trong đạo Phật có vô lượng pháp môn tu, không có pháp môn nào cao hơn pháp môn nào. Chỉ có hành giả, người tu thì có cao thấp, do vì công năng tu tập có sâu, dày, có thật sự dụng công nhiều hay ít, vì thế sở đắc có mau có chậm, có cao có thấp. Vấn đề ở chổ, tu làm sao và tu như thế nào để chúng ta sớm được an lạc, giác ngộ.


Muốn khai mở tri thức để đi đến sự giác ngộ, ta cần phải quật tung nội tại, tự lực nương vào kết hợp với tha lực, tâm năng rộng mở linh thông cùng vũ trụ, tiểu ngã hòa nhịp cùng đại ngã, nội giới, ngoại gìới, căn và trần, tâm và cảnh. Một khi chưa quân bình được hai đối cực nội và ngoại, trong và ngoài, những tác động của nó dù đến từ đâu, đều khiến ta phải, lặn hụp trong phiền não, sinh tử. Nếu biết cách đối trị, dung hoà, liên kết, thì những hưng khởi, níu kéo ấy dù đến từ bên ngoài hay trong, cũng là phương cách nhằm thẩm định, kiểm tra lại nội lực đang tìm ẩn ở trong ta. Nhiều khi ta lầm tưởng mình đạt được sự vững chãi ở nội tâm, nhưng khi gió bát phong thổi lên ta trở nên cuốn cuồng, mất phương hướng tìm cách đối phó, vì thế rơi vào khủng hoảng, bế tắc, đổ vỡ.


Ta luôn bị đàn áp, lý tưởng hóa, nô lệ, vô minh bao phủ. Nên con người thật thuần khiết, bản lai diện mục chưa có dịp xuất hiện, chỉ khi nào ta để cho bản năng, tâm thức con người ấy diệt đi, ta mới làm sống, tái sinh lại con người thật của mình, được như thế phần nào ta đã giác ngộ. Đây chỉ là một chặng đường chứ chưa hẳn sự chấm dứt một hành trình, ta còn phải liên tục dụng công đến khi nào chấm dứt vòng luân hồi lẩn quẩn, đạt được sự giải thoát tuyệt vời.


Khi căn và trần gặp nhau, khoảng giữa đó là sự nhận biết (thức) theo đó dẫn dắt ta đi vào muôn vạn nẽo, ru ta ngũ say trong sự sai sử. Khiến ta nhiều phen chạy theo, trong sự bất lực với bao lụy phiền, dẫm đạp lên muôn ngàn nỗi đau đớn của chính mình và đồng loại, cứ thế ta vung tay đẩy tất cả rơi vào thống khổ mà không một sự dày vò hối hận, tiếc thương. Thỉnh thoảng ta chợt dừng lại nhưng không phải để tra vấn với chính mình mà tìm mọi cách lấy đà, tiếp bước cho bản ngã, cho phiền não, tham sân si được dịp ngự trị dài lâu hơn. Chỉ khi nào ta bị bế tắc, thất bại ê chề, đau đớn phủ ngập lối đi, hơi thở đong đầy phiền lụy, sinh lão bệnh tử ào ào ập đến. Lúc ấy may ra ta mới giật mình nhìn lại chính ta, không biết có muộn chăng vì tuổi già sức yếu, bệnh hoạn, âu lo, đau khổ triền miên, luân phiên thăm viếng? Ôi nỗi đau còn hoài, còn ở lại, còn dài dài, còn mãi mãi, biết đến khi nào?


Muốn đạt sự tỉnh thức, ta cần khai dẫn, hướng sự nhận thức đến gần với tâm giác ngộ. Liên tục tư duy, quán chiếu vô thường, biến đổi, sinh diệt của thực tại. Chuyển hóa, thăng hoa, nâng tầm nhận thức thấu rõ, thông suốt, ở bình diện cao mà tâm biến động, nổi trôi, phiền não không bao giờ đụng đến được. 


Ta đọc vài đoạn để chiêm nghiệm lại con người thật của mình và cũng để sám hối ba nghiệp, sáu căn.


Dần thì cảnh sách chúng kệ: (Bài kệ cảnh sách giờ Dần)

Ánh dương vừa mới hé

Mặt đất tối rạng dần

Ý xôn xao trỗi dậy

Hình tranh nhau phân vân

 

Đừng ôm xác chết nữa

Ngững đầu lên thiền chân

Siêng năng trong sáu niệm

Mới khế ngộ cơ thần.


- Sơ nhật chúc hương: (Lễ chúc hương buổi sớm)

“Phục dĩ: bóng thỏ về Tây, vầng ô đã rạng: nơi chiếu Phạn, họp muôn dòng Thanh Tịnh; trên cõi Không, lễ các bậc Thánh Hiền. Muốn gửi tin bằng gỗ chiên đàn; phải kính đốt xông loài hương báu. Hương này, trồng từ rừng Giới Luật, tưới bằng nước Thiền Na; chặt trong vườn Trí Tuệ, đẽo bằng đao Giải Thoát. Hương không dùng rìu búa sức người mà hình thể tự nhiên tự kết. Đốt nén bảo hương Tri Kiến; kết thành đài mây Quang Minh. Lúc hương xông khắp chốn thơm tho; nơi khói tỏa đầy trời ngào ngạt. Nay nhân buổi sớm, đốt hương cúng dường”.


- Hiến hương kệ: (Bài kệ dâng hương)

Ngào ngạt trầm hương rừng chính định

Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng

Giới đạo đẽo gọt nên hình núi

Đốt tại lò Tâm để hiến dâng


 - Hiến hoa kệ: (Bài kệ dâng hoa)

Hoa nở sáng ngời trên đất tâm

Hoa tiên rải xuống chẳng thơm bằng

Hái dâng từng đóa lên chư Phật

Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.

(Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 1 trang 256-257)


- Chí tâm khuyến thỉnh: (Dốc lòng khuyên mời)

Kính xin chư Phật mười phương

Thánh hiền, Bồ Tát cùng hàng tăng ni

Mở tâm vô lượng từ bi

Chúng sinh vượt độ sông mê đến bờ.


- Chí tâm phát nguyện: (Dốc lòng phát nguyện)

Một nguyền rộng khai đường chính kiến

Hai nguyền vừa dụi mắt tinh nhanh

Ba nguyền xem hình không quyến luyến

Bốn nguyền thấy sắc chẳng bận tình

Năm nguyền đầu mê mau sớm tỉnh

Sáu nguyền mắt tuệ tự viên thành

Bảy nguyền mộng đời đừng đắm đuối

Tám nguyền giữ mãi tính anh minh

Chín nguyền nhìn đời, mờ tối mất

Mười nguyền ngó lại, huyễn hoa đình

Mười một nguyền xa trông mây chướng cuộn

Mười hai nguyền chớp mắt nghiệp băng thanh.

 (Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2, quyển Thượng trang 168,172)


- Sám hối ý căn tội: (Sám hối tội căn do Ý)

"Dốc lòng sám hối, bọn chúng tôi từ vô kiếp tới nay, bỏ mất bản tâm, không hay chính đạo. Đọa ba đường khổ: bởi sáu căn sai. Không sám hối trước, khó ăn năn sau.

Tội căn ý là: Vấn vương nghĩ ngợi, không lúc nào thôi, mắc mưu tình trần, lấp tâm chấp tướng. Như tằm cuộn kèn càng buộc càng dăng, như bướm lao đèn tự thiêu tự đốt. Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo sinh càn; quấy nhiễu tất lòng, đều do tam độc.

Tội keo tham là: âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ, mười vốn nghìn lời, còn cho chưa đủ. Của như sông chứa; lòng tự chén rò. Rót vào lại hết; nên nói chưa vừa. Tiền mục thóc dư, chẳng cưu đói rét; lược chồng lụa chất, nào có giúp ai. Được người mấy chục, chưa nói là nhiều; hại đến một đồng, cho là hao lớn. Trên từ châu báu; dưới đến tơ gai. Kho đụn chất đầy; chưa từng bố thí. bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo; khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

Tội giận dữ là: căn tham là gốc; lửa giận tự thiêu. Quắt mắt quát to; tiêu tan hòa khí. Chẳng riêng người tục; cả đến thầy Tăng. Kinh luận tranh giành; cùng nhau công kích. Chê cả sư trưởng; nhiếc đến mẹ cha. Cỏ nhẫn lụi vàng; lửa độc rực cháy. Buông lời hại vật; cất tiếng hại người. Không nghĩ từ bi; không theo luật cấm. Bàn thiền tựa thánh; trước cảnh như ngu. Dẫu ở cửa không chưa thành vô ngã. Như cây sinh lửa; lửa cháy đốt cây. Những tội trên đây đều do nghiệp giận.

Tội ngu si là: căn tính đần độn; ý thức tối tăm. Chẳng hiểu tôn ti; chẳng chia thiện ác. Chặt cây hại xác; giết gấu gãy tay. Mắng Phật thánh tai; nhổ trời ướt mặt. Quên ơn quên đức; bội nghĩa bội nhân. Không xét không hay, đều vì si nghiệp.

Các tội như vậy, rất nặng rất sâu; đến lúc mệnh chung, phải sa địa ngục. Qua nghìn vạn kiếp, mới được thụ sinh; nếu được thụ sinh, lại thành người độn. Nếu không sám hối, sao được tiêu trừ. Nay ở Phật tiền, thảy đều sám hối (Băng Thanh - Đỗ Văn Hỷ dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển thượng trang 218-219).


(Còn tiếp)

 Như Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn