- Đức Đạt Lai Lạt Ma

27/02/201112:00 SA(Xem: 8564)
- Đức Đạt Lai Lạt Ma


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 Nguyễn Trần Ai


(Tiếp theo)

 Theo lệnh Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình phụ trách Cục Tây Nam phát động chiến dịch xâm lăng với Trương Quốc Hoa là tổng chỉ huy chiến dịch, đưa quân đoàn 18 dã chiến và địa phương quân các tỉnh biên giới ngày 6.10.1949 bất ngờ đánh chiếm Xương Đô là cửa ngõ vào Tây Tạng. Ngày 21.2.1950 báo chí Tàu loan tin đã tiêu diệt được 5,700 quân Tây Tạng. Ngày 11.12.1950 Tây Tạng cẩu cứu Liên Hiệp Quốc, không được đáp ứng. Ngày 24.2.1951 thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố giải tán chính phủ Tây Tạng. Ngày 14.1.1851 Mao Trạch Đông phê chuẩn việc sáp nhập Tây Tạng thành một tỉnh của Tàu, thành lập Ủy Ban Tây Tạng và đảng bộ Cộng Sản Tây Tạng do Trương Quốc Hoa làm bí thư. Năm 1954, Đạt Lai Lạt Ma đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình (hình trên). Kết quả là bản hiệp ước 23.5.1951 được ký kết theo đó dân Tây Tạng vẫn có thể sinh hoạt văn hóa và tôn giáo độc lập dưới sự thống trị của Tàu. Thực tế Tàu cho người sang chiếm đất, thu hết nguồn lợi của dân Tây Tạng, hủy hoại văn hóa của họ nên ngày 10.3.1959, họ biểu tình tại thủ đô Lhasa, kêu gọi binh lính Tàu rút khỏi Tây Tạng.

 

 Lúc ấy Hồ Cẩm Đào là bí thư đảng bộ Tây Tạng, kiêm bí thư quân ủy ra lệnh cho quân đội và cảnh sát Tàu nổ súng vào đoàn người tay không, cho pháo binh tàn phá phần lớn thành phố và cả lâu đài Potola của Đức Dala Lama. Cuộc đàn áp đã diễn ra nhiều ngày ở thủ đô LhaSa và khắp nơi trên đất nước Tây Tạng hết sức khốc liệt và đẫm máu chưa từng có. Thực ra, Hồ Cẩm Đào đã chủ động trong việc này, ngày 6.3 đã triệu tập khẩn cấp một cuộc họp gồm những người phụ trách các sở, cục ban ngành của khu tự trị và thành phố Lhasa, thông báo sự kiện gây rối nghiêm trọng, yêu cầu đảng viên cán bộ quân đội kiên định lập trường, thái độ dứt khoát rõ ràng dẫn dắt quần chúng tiến hành trấn áp kiên quyết với các thế lực chia rẽ. Đồng thời Hồ Cẩm Đào báo cáo về Bắc Kinh tình hình ở Lhasa. Trung ương tán thành đề nghị của Hồ Cẩm Đào thực hiện giới nghiêm ở Lhasa. Ngày 23.4 Bắc Kinh tuyên bố giải tán những người nổi loạn ở đông nam Tây Tạng và đóng cửa biên giới với Ấn Độ để không cho dân Tây Tạng chạy qua biên giới Ấn Độ. Trong hai ngày 26 và 29.4 báo chí toàn quốc đồng loạt đăng bài xã luận của Nhân Dân Nhật Báo: “Cần phải chống động loạn một cách cương quyết” “Bảo vệ đại cục và bảo vệ ổn định”. Báo chí cũng đăng tin về những hoạt động của Hồ Cẩm Đào như đi thăm các sĩ quan chỉ huy chiến đấu tại Phân khu Sơn Nam, điều tra nghiên cứu tại huyện Khúc Tùng, khu vực Nhật Ca Tắc, thị sát huyện Trát-Nang, có bài

phát biểu quan trọng tại hội nghị cán bộ đảng viên cấp cục Khu tự trị... Ngày 9.6 Đảng Ủy kiêm Quân Ủy khu tự trị Tây Tạng, tức Hồ Cẩm Đào gửi điện văn lên Trung Ương Quốc Vụ viện quân ủy: “kiên quyết ủng hộ quyết sách, quyết đoán dẹp bạo loạn phản cách mạng”.

 

 Sau cuộc nổi dậy bất thành của người dân Tây Tạng, ngày 17.3.1959 Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng khoảng 80.000 thần dân vượt Hy Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại Dharamsala miền bắc Ấn Độ. Ngài tuyên bố: “Cuộc khủng hoảng tại trung tâm Tây Tạng buộc tôi đào thoát khỏi quê nhà sang Ấn Độ, để dấn thân trở thành tị nạn không có tư cách công dân. Nhưng mất quyền công dân tại quê hương, tôi tìm thấy nó trong một ý nghĩa rộng lớn hơn; tôi có thể thực sự nói rằng tôi là một công dân của hoàn vũ”.  

 

Tại Dharamsala năm 1960, thành lập một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội đồng Dân cử Tây Tạng. Khoảng 200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại Ấn Độ để tăng chúng tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo của Tây Tạng. Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma ban hành một Hiến Pháp dân chủ dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên hiệp quốc để chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do tương lai. Năm 1992 khởi động thêm những bước quan trọng cho một chính quyền dân chủ như trực tiếp đầu phiếu cho Hội đồng bộ trưởng bởi Nghị viện và thành lập ngành tư pháp. Năm 2001 có cuộc bầu cử trực tiếp đầu tiên trong lịch sử của Tây Tạng để chọn thủ tướng (senior minister).

 

 Việc tìm kiếm và huấn luyện một vị Đạt Lai Lạt Ma là một định chế thiêng liêng và lâu đời của truyền thống Tây Tạng mà nay đương kim Đạt Lai Lạt Ma thản nhiên hủy bỏ thì hẳn không phải là một quyết định nông nổi. Trước kia, sau khi được chọn, vị Đạt Lai Lạt Ma, ngay từ khi mới mấy tuổi đời, đã được đào tạo bởi những vị lạt ma thượng thặng về từng môn học trong lâu đài Potola án khói nhang đèn và thấm đượm tinh thần đạo đức, trí tuệ suốt năm, sáu thế kỷ liên tục thì đấy là một môi trường tu luyện lý tưởng khiến cho việc thành đạt được dễ dàng. Nay bối cảnh và điều kiện ấy không còn nữa thì việc duy trì truyền thống chỉ là sự gạn ép cuồng tín, thiếu khoa học. Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang trong bài “Những nhà vệ sinh tôi đã đi qua” nhận định: “Trên nóc thế giới, ngay ở đền Potola, Lhasa Tây Tạng, ngày nay đã bị Trung Hoa xâm chiếm, phòng vệ sinh cũng bị Hoa hóa”.

 

 Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố rằng sẽ không bao giờ tái sinh nội trong lãnh thổ chịu sự kiểm soát của Trung Cộng. Mục tiêu của những lần tái sinh là để tiếp tục công việc chưa hoàn thành và nếu hoàn cảnh của Tây Tạng vẫn không thay đổi, thì có lẽ rằng ngài sẽ tái sinh để hoàn tất công việc đó. Trong mùa hè năm 2007, chính quyền Cộng Sản Trung Quốc đã ký sắc lệnh ấn định “tất cả các Đạt Lai Lạt Ma tái sinh phải được chính quyền Trung Quốc chuẩn y”!

 

 Đáp lại, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần nhắc lại rằng cơ chế Đạt Lai Lạt Ma hoàn toàn do chính phủ Tây Tạng quyết định và ngài cũng cho biết thêm là cơ chế này thực sự hữu hiệu cho đất nước Tây Tạng “trong lịch sử”. Gần đây, Ngài nói thêm rằng một vị Đạt Lai Lạt Ma tương lai có thể thuộc về nữ giới nếu như điều này đem lại lợi ích. Ngoài ra, ngài còn cho rằng với sự đồng thuận của người dân Tây Tạng, việc truyền thừa Đạt Lai Lạt Ma có thể được thay đổi. Ngài nói cũng chưa rõ liệu người kế nhiệm sẽ được chính phủ Tây Tạng bầu ra.

 

 Những tư tưởng phóng khoáng này mang tính chất khoa học. Ngài là Huệ Hải, lại có tinh thần khoa học đặc biệt, đã có lần phát biểu rằng nếu không phải là một nhà sư thì ngài thích trở thành một kỹ sư. Ngài tuyên bố: “Với ảnh hưởng ngày càng lớn của khoa học lên đời sống của chúng ta, tôn giáo và tinh thần càng có một vai trò vĩ đại hơn nhắc nhở ta về bản chất con người. Không có mâu thuẫn giữa hai phương diện này. Mỗi phương diện cho ta các hiểu biết thấu suốt vào phương diện còn lại. Cả khoa học lẫn các giảng huấn của Phật đều dạy bảo ta về sự thống nhất của vạn vật.

 

 Ngài đã tự thuật rằng thuở thiếu thời là một đứa trẻ rất tò mò táy máy, yêu khoa học: Việc thấy được tầm quan trọng to lớn của khoa học và việc công nhận tư thế thống trị không tránh được trong thế giới hiện đại đã làm thay đổi thái độ của tôi một cách cơ bản từ việc tò mò sang một kiểu hành động gấp rút... Tôi muốn tìm hiểu khoa học vì nó cấp cho tôi những lĩnh vực mới để khám phá trong cuộc truy tìm cá nhân để tìm hiểu bản chất của thực tại.

 

 Ngài đã là một trong số ít người Tây Tạng trẻ biết tự tò mò tháo gỡ để lắp sửa các loại đồng hồ và nhiều máy cơ khí khác.

 

 Đức Đạt Lai Lạt Ma là một trong những nhân vật được nhiều tặng thưởng nhất thế giới. Hơn 80 giải thưởng hay bằng tưởng lệ, bằng cấp danh dự từ các viện đại học cho đến cấp quốc gia quốc tế từ khoảng hơn 30 nước đã trao tặng cho ngài, trong đó có giải Nobel Hòa Bình năm 1989. Ủy Ban trao giải phát biểu: “Ủy Ban muốn nhấn mạnh một sự thật là ngài Đạt Lai Lạt Ma trong công cuộc đấu tranh để giải phóng Tây Tạng không mệt mỏi đã chống lại việc sử dụng bạo lực. Thay vào đó ngài kêu gọi các giải pháp hòa bình dựa trên cơ sở khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để từ đó bảo vệ lịch sử và tài sản con người. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát triển triết lý của Ngài về hòa bình từ sự kính trọng vĩ đại đối với tất cả chúng sinh và trên nguyên tắc tinh thần trách nhiệm phổ dụng bao gồm toàn thể nhân loại cũng như thiên nhiên. Ý kiến của Ủy Ban cho rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đến với tính cách xây dựng và với những đề xuất nhìn về phía trước cho giải pháp về các xung đột quốc tế, các khó khăn về nhân quyền, và các vấn đề về môi trường toàn cầu.

 

 Ngày 5.2.2007, viện Đại Học Emory loan báo là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhận lời mời làm giáo sư cho Viện, một viện đại học tư nổi tiếng của tb Georgia và cả Hoa Kỳ.

 

 Tính đến nay đã có trên 72 tác phẩm các loại, do chính ngài tự tay viết hoặc do đệ tử ghi chép lại từ những bài giảng. Đáng chú ý trong số tác phẩm này là:

 

  • Mở Huệ Nhãn (The opening of the Wisdom eye, xuất bản năm 1972);
  • Phật giáo Tây Tạng (The Buddhism of Tibet, xb năm 1975);
  • Biển của Trí Huệ (Ocean of Wisdom, xb tháng 2 năm 1990);
  • Dalai Lama: Chính sách của Lòng Từ (The Dalai Lama: A Policy of Kindness, xb năm 1990);
  • Tự do nơi lưu đầy (Free in Exile, xb năm 1991);
  • Ý nghĩa của cuộc sống (The meaning of Life, xb năm 1992);
  • Tia sáng trong bóng đêm (Flash of Lightning in the Dark of Night, xb năm 1994);
  • Cuộc đối thoại về trách nhiệm chung và giáo dục (Dialogues on Universal Responsibility and Education, xb năm 1995);
  • Sức mạnh của lòng từ bi (The power of compassion, xb năm 1995);
  • Con đường giác ngộ (The Path of Enlightenment, xb năm 1995);
  • Bạo lực và Lòng từ bi-Sức mạnh của Phật giáo (Violence and Compassion/ Power of Buddhism, xb năm 1995);
  • Chữa lành cơn thịnh nộ: Sức mạnh của sự kiên nhẫn từ cách nhìn của Phật tử (Healing Anger: The Power of Patience from a Buddhist Perspective, xb tháng 3 năm 1997);
  • Tứ Diệu Đế (The Four Noble Truths, xb năm 1998);
  • Nghệ thuật hạnh phúc (The art of Happiness, xb năm 1998);
  • Thời luân Đát-đặc-la (KALACHAKRA TANTRA, Xb 1999);
  • Ý Nghĩa cuộc cuộc sống (THE MEANING OF LIFE, Xb 1999);
  • Khoa học Tâm Linh, Cuộc đối thoại Đông-Tây (MIND SCIENCE, An East-West Dialogue, xb 1999);
  • Ngủ, mơ và chết, một cuộc khám phá của Tâm thức (SLEEPING, DREAMING, AND DYING, An Exploration of Consciousness, Xb 1999);
  • Thế giới Phật giáo Tây Tạng, khái quát về triết lý và thực hành (THE WORLD OF TIBETAN BUDDHISM, An Overview of Its Philosophy and Practice, Xb 1999);
  • Đạo Đức Thiên Niên Ki Mới (Ethics for the new millennium, xb tháng 8 năm 1999);
  • Nghệ Thuật của Hạnh Phúc: Sổ tay cho cuộc sống (The Art of Happiness: A Handbook for Living, xb tháng 9 năm 1999);
  • Trí Huệ Luận (The Dalai Lama's Book of Wisdom, xb tháng 4 năm 2000);
  • Biến đổi Tâm (Transforming the Mind, xb tháng 5 năm 2000);
  • Các Giai Đoạn của Thiền Định (Stages of Meditation, xb tháng 3 năm 2001);
  • Con Đường dẫn tới cuộc sống đầy ý nghiã (How to Practice : The Way to a Meaningful Life, xb tháng 5 năm 2001)
  • Tâm hồn rộng mở: Thực Hành Từ bi trong cuộc sống hàng ngày (An Open Heart:
  • Practicing Compassion in Everyday Life, xb tháng 9 năm 2001); Luận về Từ Bi và Bác Ái (The Dalai Lama's Book of Love and Compassion, xb tháng 10 năm 2001);
  • Những lời Khuyên của Thích-Ca-Mâu-Ni (Advice from Buddha Shakyamuni, xb tháng 7 năm 2002);
  • Cốt Tủy của Hạnh Phúc: Sách Hướng Dẫn cho Cách Sống (The Essence of Happiness: A Guidebook for Living xb tháng 7 năm 2002);
  • Đường Dẫn tới sư Yên Tĩnh: Trí huệ hàng ngày (The Path to Tranquility: Daily Wisdom , xb tháng 8 năm 2002);
  • Tỉnh Thức Luận (The Dalai Lama's Book of Awakening, xb tháng 2 năm 2003);
  • Nghệ Thuật của Hạnh Phúc trong Công Việc (The Art of Happiness at Work, xb tháng 8 năm 2005);
  • Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử : Sự Hội Tụ của Khoa Học và Tâm Linh (The Universe in a Single Atom: The Convergence of Science and Spirituality, xb tháng 9 năm 2005);
  • Để Thấy được Thực Sự Chính Mình (How to See Yourself As You Really Are, xb tháng 12 năm 2006).
  •  

 Trang WEB của văn phòng đức Đạt Lai Lạt Ma phổ biến những tâm nguyện của ngài :

 Thứ nhất, trên mức độ con người, đề cao các giá trị nhân bản như từ bi, hỷ xả, dung thứ,

khoan hoà và tự chế. Mọi người đều như nhau. Tất cả chúng ta đều mong cầu hạnh phúc và không muốn đau khổ. Ngay cả những ai không tin tôn giáo cũng chấp nhận tầm quan trọng của các giá trị nhân bản trong việc làm cho cuộc sống họ hạnh phúc hơn. Ngài cho những giá trị này như là đạo đức trường tồn. Ngài còn nguyện để thảo luận về tầm quan trọng của các giá trị này và sẽ chia sẽ với mọi người mà ngài gặp gỡ.

 

Thứ hai, trên mức độ của một người hành đạo, ngài đề cao sự hài hoà tôn giáo và hiểu biết lẫn nhau giữa các truyền thống tôn giáo chính. Mặc cho các khác biệt về triết lý, tất cả các tôn giáo chính trên thế giới có cùng một năng lực để tạo ra những con người tốt đẹp. Do đó việc tất cả tôn giáo tôn trọng và công nhận giá trị truyền thống của tôn giáo khác là điều quan yếu. Một sự thật là, mỗi tôn giáo được quan tâm liên quan đến từng cá nhân. Mặc dù vậy, đối với tổng thể cộng đồng, nhiều chân lý, nhiều tôn giáo là điều cần thiết.

 

Thứ ba, Ngài là một người Tây Tạng và mang danh hiệu “Đạt Lai Lạt Ma”. Người Tây Tạng đặt lòng tin vào Ngài. Do đó, sở nguyện thứ ba hướng về vấn đề Tây Tạng. Ngài có một trọng trách để hành động như là người phát ngôn cho tự do của người Tây Tạng trong khó khăn giành lấy công bằng của họ. Nguyện ước thứ ba này sẽ không còn tồn tại một khi giải pháp lợi ích lẫn nhau đạt tới được giữa người Tây Tạng và Trung Hoa.

 Mặc dù vậy, Ngài sẽ thi hành hai nguyện ước đầu cho đến hơi thở cuối cùng.

 

 Đức Đạt Lai Lạt Ma tuy luôn luôn ôn hòa và chỉ xin Trung Quốc cho Tây Tạng quy chế tự trị “chính đáng và đúng nghĩa” nhưng ngài cũng không ngần ngại nói lên sự thật. Ngày 10.3.2009, cộng đồng Tây Tạng lưu vong đánh dấu một cuộc tổng nổi dậy bị Trung Quốc đàn áp dữ dội cách nay đúng 50 năm. Trước một cử tọa hơn 10 ngàn người từ khắp nơi tề tựu về Dharamsala, Ấn Độ, nơi đặt trụ sở chính phủ lưu vong, ngài đã cực lực tố cáo Bắc Kinh, “50 năm qua là 50 năm khổ đau không diễn tả được đối với người dân Tây Tạng, sống trong sợ hãi triền miên”. Phản bác những lời tuyên bố của Đức Đạt Lai Lạt Ma lên án Trung Quốc biến Tây Tạng thành địa ngục trần gian, bộ ngoại giao Tàu nói là lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói dối. Theo phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc thì cuộc cải cách “dân chủ” do Bắc Kinh thực hiện tại Tây Tạng là một cuộc cải cách sâu rộng chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc này. Và người dân ở đây rất sung sướng.

 

 Còn có lời tuyên bố nào trâng tráo, vô liêm sỉ hơn không? Cả thế giới chứng kiển cái “sung sướng” Tàu ban cho Tây Tạng. Hay hoàn cảnh hiện thời của dân Tây Tạng là chuẩn cứ hạnh phúc của Trung Quốc nói riêng, của Cộng Sản nói chung? 

 

 Tuy tố cáo Tàu như thế, ngài vẫn chủ trương bất bạo động.

 

 Đến Seattle, tb Washington, từ 11 đến 15.4.2008 để nói về tình thương và hòa bình, ngài chia sẻ diễn đàn với cựu tổng giám mục Anh giáo Desmond Tutu của Nam Phi và nhiều nhà lãnh đạo và giáo dục toàn cầu, trong đó có Paul Ingram, giáo sư danh dự môn tôn giáo tại đại học Pacific Lutheran University. Giáo sư Ingram phát biểu: “Ngài luôn luôn bảo mọi người đừng xử dụng bạo lực. Công chúng ưa thích đạo đức, sự can đảm và tình thương yêu của ngài”. Giáo sư cũng nói Trung Cộng đã xuyên tạc và đổ lỗi cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vì những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Trong một thông cáo báo chí, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: “Là một trong số 6 tỉ người trên thế giới, tôi tin tưởng tương lai của nhân loại là trách nhiệm của mỗi người. Tôi tin rằng để đạt được một đời sống hạnh phúc trên mỗi một cá nhân, gia đình, một quốc gia hoặc trên mức độ toàn cầu, cuối cùng chúng ta cần đạt tới sự toàn tâm toàn ý của tình thương. Tôi thực sự cảm thấy rằng hội nghị này có thể gieo trồng những hạt giống tích cực cho một tương lai hạnh phúc, một thế giới hạnh phúc, đặc biệt là cho trẻ em. Các em là thế hệ trẻ hơn, là nền tảng thực sự cho niềm hy vọng của chúng ta”. 

 

 Ngài chỉ là một nhà sư, tấc sắt trong tay không có, thế mà chính quyền cọng sản Bắc Kinh sợ đến nỗi hèn hạ dùng đến cả mánh khóe vu khống. Trong khi chúng luôn cáo buộc Ngài là “Con sói đội lốt nhà sư”, Ngài khuyến dụ những người ủng hộ phải theo đuổi mục tiêu một cách hòa bình.

Năm 1987, nhân tham dự một hội nghị nhân quyền tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, ngài đề xuất một chương trình hòa bình 5 điểm :

1. Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình;

2. Chấm dứt việc di dân Trung Quốc đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng;

3. Tôn trọng các quyền dân chủ, tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng;

4. Phục hồi và bảo vệ môi sinh của Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên tử;

5. Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai của Tây Tạng và bang giao giữa Tây Tạng với Tàu.

 

 Ngày 7.1.2008 thủ tướng Ôn Gia Bảo trước các phóng viên báo chí tại buổi họp báo thường niên, ở cuối buổi họp của quốc hội Trung Quốc đã bịa đặt: “Có dư thừa sự thật – và chúng tôi cũng có nhiều bằng chứng - để chứng minh rằng các vụ rắc rối này đã đươc tổ chức, có dự tính, điều khiển và xúi giục bởi bè lũ Đạt Lai. Tất cả những việc này đã cho thấy rõ hơn về những lời tuyên bố thường xuyên của bè lũ Đạt Lai rằng, họ không theo đuổi việc đòi độc lập nhưng chỉ muốn đối thoại ôn hòa, là không có ý nghĩa gì cả ngoài những sự dối trá. Khi bày ra các vụ rắc rối này, họ muốn phá hoại Thế vận hội Bắc Kinh, và họ cũng cố gắng thỏa mãn cái âm mưu thầm kín của họ bằng cách xúi giục gây ra các vụ rắc rối này”.

 

 Ngày 20.3.2008 nói chuyện với các phóng viên báo chí tại Dharamsala, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố, “Tôi muốn nói cùng Trung Quốc và người dân Tây Tạng rằng đừng gây ra bạo động. Có thể là có vài mật vụ Tàu đã dính dấp vào đó. Đôi khi các chế độ độc tài rất thông minh, cho nên điều quan trọng là phải mở cuộc điều tra. Hãy đến đây, xin hãy điều tra sự thật. Tàu có thể đến, xem xét mọi thứ”. Ngài khôi hài rằng họ cũng sẽ được hoan nghênh nếu muốn ...lục soát ngay cả ...bên dưới ...tăng y của ngài. Có thể diễn dịch lời phát biểu của ngài: Trung Quốc đã vơ vét hết nay còn có cái của qúy của ngài có muốn lấy ngài cũng tặng luôn.


Ngài cũng phản bác lời cáo buộc của Trung Quốc rằng ngài là người đứng đằng sau các cuộc bạo động tại Tây Tạng. Ngài bảo, “Đừng khởi xướng bạo động, bạo động là chống lại nhân bản, là hầu như đi đến tự sát, ngay cả nếu như 1000 người hy sinh mạng sống, rồi thì cũng sẽ không giúp ích được gì, độc lập không nằm trong sự đòi hỏi của chúng ta”. Ngài tuyên bố tiếp, nếu bạo động vẫn tiếp tục, ngài sẽ thoái vị trong vai trò lãnh đạo chính trị của chính phủ lưu vong.

 

 Tenzin Taklha, một phụ tá cao cấp của ngài giải thích thêm, “Nếu người dân Tây Tạng chọn lựa đường lối bạo động, thì ngài sẽ từ chức bởi vì ngài đã cam kết hoàn toàn theo đường lối bất bạo động. Ngài sẽ từ bỏ chức vụ của một lãnh tụ chính trị và của một nhân vật đứng đầu chính phủ, nhưng ngài không từ bỏ chức Đạt Lai Lạt Ma”. .

 

(Còn tiếp)

Nguyễn Trần Ai

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn