- Dấu xưa - Nhuận Hùng

12/09/201112:00 SA(Xem: 9062)
- Dấu xưa - Nhuận Hùng


DẤU XƯA



N
huận Hùng 
(Tiếp theo kỳ I)

 

RỒI CŨNG RA ĐI

Cuộc vui nào rồi cũng chấm dứt, buổi tiệc nào cũng phải chia tay. Đúng thế, đời người như một vở tuồng trên sân khấu, (hỷ, nộ, ái, ố…) cuộc sống của bậc vuơng giả cũng không qua hai chữ vô thường. Nếu sống trong đời mà biết gieo nhiều duyên lành thì mai mốt, mốt nọ có giã từ cõi trần, đi nữa, dĩ nhiên còn hơn những người sống lúc nào cũng mưu toan, đoạt lợi mà vẫn chưa thỏa mãn dục vọng tham muốn…

 

Nhắc lại câu chuyện, ngay lúc này tại triều đình đã có sự rạn nứt từ trong dòng tộc mà ra, do cảnh huynh đệ tương tàn… Người em của vị vua tham tàn, bạo ngược. Bên ngoài trông vẻ đạo đức giống bậc chân tu nhưng ngược lại thâm tâm thì khác hẳn. Từ đáy lòng canh cánh, luôn luôn mong mỏi một lúc nào đó sẽ đoạt ngôi vua, mượn tay…để giết luôn cả người anh ruột của chính mình, hiện là hoàng đế đương thời.

 

Vị vua này hình như lúc sa cơ thất thế đã nhờ cậy vào những vị sư Thiếu Lâm Tự che chở và ẩn trú, mà còn được chỉ dạy võ công tuyệt đỉnh của phái này. Chẳng những, ơn không nhớ đến mà còn sanh lòng ganh tỵ, sợ rằng một ngày nào đó đệ tử của Thiếu Lâm tìm đến tranh tài. Bởi vậy thế gian có câu:

 “Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán”.

 

Nhà vua âm thầm thực hiện những mưu toan đen tối nhưng cơ mưu chưa thực hiện được thì dở chướng, tham đắm sắc dục, do bị bọn gian thần bày trò vui chơi tiệc tùng suốt thâu đêm…Những gì đến rồi sẽ đến, nhân quả không thể trốn chạy được. Đúng vậy, cuộc đời không yên ổn như mình tưởng, dòng sông không thể nào bình lặng như mặt nước mùa thu…Song những nạn kiếp của con người gây tạo ác hay thiện, chúng cũng theo thời gian mà báo ứng.

 Thời gian chẳng khác nào vó câu qua cửa sổ.

 

 Nắng quái,

 mưa nguồn

 thảm sầu…

 

Bao nhiêu cảnh tượng hãi hùng trôi qua…

 

Chàng nhớ lại 5 năm về trước ân nhân cứu mạng là “Lão Bá” và cũng là vị sư phụ thứ hai đã truyền dạy cho chàng rất nhiều võ công và những cách thức cư xử …và khi gặp tình huống khó khăn…Kể từ khi tạm biệt Lão Bá, rời xa động Mãn Xà, chàng mang một ý nguyện sẽ tìm lại sư phụ vị thầy chính của chàng đã thất lạc bao năm qua.

 

Trước lúc chia tay, Lão Bá trao cho chàng ba phong bì, gói thứ nhất, thứ nhì, gói thứ ba là lớn hơn với lời căn dặn, khi nào cần thiết con hãy mở ra và theo đó mà làm, con phải thận trọng trong mọi tình huống...Lão Bá cũng không quên nhắc thêm câu:

 “Khi mê thì thầy độ, khi ngộ con độ lấy con”

 

Thời gian như dừng lại, không gian dường như đứng yên khiến chàng vẫn nghe được con muỗi bay qua. Chưa hết, Lão Bá còn nói tiếp:

 “Chuyến đi này rất nhiều gian nan, nhưng Lão mong rằng con sẽ gặp lại người thân và làm rạng danh cho môn phái”…


-Chàng lạy tạ Lão Bá và ghi nhớ những lời chỉ giáo, sau cùng. Chàng không thể nào ngăn những giọt lệ từ khóe mắt. Phút chia tay thật ngậm ngùi trưóc cảnh kẻ ở người đi. Lão Bá là vị ân nhân cứu mạng và cũng là sư phụ lúc nào chàng cũng kính trọng và vâng theo lời chỉ giáo.

 

Sau đó chàng lạy tạ Lão Bá rồi lên đường đi ngay, linh tính báo trước việc không hay sẽ xảy ra tại nơi này, nên Lão Bá giục chàng lên đường “càng sớm càng tốt”.

 

Lần lượt làm lữ khách trên bước đường hành hiệp tha phương nơi xứ lạ, từ tỉnh này sang tỉnh khác, chàng cứ đi đi mãi, chưa trụ vào đ âu. Tuy biết rằng chặng đường phía trước rất gian truân hiểm trở có thể mất mạng như không. Cuối cùng chàng liền tìm đến một ngọn đồi…thật yên tĩnh để luyện tập, võ công. Nhưng bao tháng ngày qua chàng cũng không đi lọt qua cửa ải khó khăn này... Tâm ý chàng cứ lãng đãng, thật khó khăn không thể bắt tâm dừng lại được, dù là nơi núi cao tột đỉnh không một ai tìm đến, nhưng tâm vẫn cứ chao đảo. Vì sự việc chưa có câu giải đáp. Ý tưởng của chàng lúc này chưa được:

 

 “Thong dong như đám mây mùa hạ,

 như giòng nước mùa Xuân”.

 

Chàng nhớ đến những gì đã học được từ Lão Bá chỉ dạy:

 

“Nếu như thân con bất động không phải từ tâm bất động và ngược lại, nó mỏng như làn sương ẩn hiện ở đâu đây. Chúng sẽ biến cảm thức thành đối tượng và đối tượng thành cảm thức. Dường như không còn năng, sở, chủ và khách. Nhưng trạng thái ấy không phải là bất động. “Bất động” phải là trạng thái cao nhất của “sinh động”. Nó chuyển động quanh trục của một tâm điểm “không hề giao động”. ở đây nó tỉnh thức và bén nhạy như một tấm gương phản chiếu. Hình ảnh nọ kế tục hình ảnh kia, trong sáng, rõ ràng và không nhầm lẫn. Bất động chẳng phải là một sinh thể vô hồn. Có thể là vô tâm, vô niệm nhưng không phải là hư vô trống rỗng. Vô hay Hữu đều là những chướng ngại cho giác tánh”.

 

Chàng lại thở dài. Thật khó mà lãnh hội điều đó bằng tri thức thì lấy gì để thể nhập, để biến thành khí huyết, để thông vận tự nhiên như hít thở khí trời. Và chàng chợt đâm ra hoài nghi những điều mình đã học:

 

“Đây là bí quyết Võ Học hay là yếu chỉ Phật Học?”

 

Rồi từ đó, chàng đăm chiêu, quyết theo đuổi cho đến cùng thời gian không còn đáng kể đối với chàng nữa, mười năm trôi qua trong hang động tưởng chừng như mới ngày nào rơi vào hang này.

 

Sau những giờ tập luyện miệt mài với kiếm côn, thương- giáo đủ loại binh khí, chàng ngồi yên tĩnh trên một tảng đá lạnh như băng có lúc chàng tưởng như đã chết cóng. Nhưng nhờ thể lực và sự tập luyện của chàng được Lão Bá truyền lại cho nên chàng vẫn bình thản không gì xảy ra. Có những lúc chàng ôn nhẩm lại những gì đã học:

 

 “Thế nào là động và bất động?

 

Chàng thầm nhủ một mình:

“Ta thử hình dung ra bánh xe quay quanh trục xe. Bánh xe chuyển động. Cũng vậy, phải bám trụ vững chắc, kiên định vào một tâm điểm. Tâm điểm này muốn gọi là Phật Địa, chơn Địa, Tuệ Địa hoặc danh từ gì đó tương tự như thế, trước khi ứng xử, tiếp vật, đón đỡ ghi nhận các Pháp từ thế giới xung quanh đến với ta. Bất động không phải là một cái để mà tìm kiếm, nắm bắt. Nó là cái để mà liễu tri, giác liễu. Tâm điểm, bất động này nó không ở ngoài, không ở trong. Không phải hữu thức, chẳng chẳng phải vô thức. Chẳng thể nói có, chẳng thể nói không. Không nổ lực, chúng tác ý và biến hóa. Không lộ diện, chúng hữu hiện, chi phối và quyết định tức thời, phản ứng đúng lúc. Nó làm cho dòng vận chuyển được liên tục và làm cho sinh lực chảy trôi không gián đoạn. Chính ở đây ta chiếm thế thượng phong tuyệt đối quyết định trò chơi sinh tử” Ôi! võ học từ đây…là chìa khóa cho ta luyện tập “Tâm bất động…” cần phải cố gắng thật nhiều.

 

Chàng càng ngẫm nghĩ: “Ôi! Rõ ràng bài tâm pháp đã ở ngoài sự lãnh hội thông minh nhất. Càng nghe, càng rối, càng thực hành, càng loạn. Động mà bất động? Bất động mà động? bất động mà tỉnh thức chứ không phải là cái ngưng động vô tri đối lập với vận hóa. Nhưng ở đây sao lại là: “Sự vắng bóng tuyệt đối của hữu thức, của ý tưởng của tự niệm?”.

 

Tại sao là thế được, chàng tự hỏi và tại sao những tấm gương trong sáng chụp bắt (thủ) và buông thả (xả) là hai tác động không gián cách, không thời gian? Nó ở trong khoảnh khắc sinh và diệt của ý giới nhưng ý giới không phát lộ được nó; Nó nắm giữ ý giới như người kỵ sĩ lão luyện cầm cương ngựa trên đường thiên lý”.

 

Đây chính là tâm điểm từ đó khởi sinh “sự tinh nhuệ, mẫn tiệp, sự linh hoạt cần thiết nhất định” Nó động ta động. Nó tịnh ta tịnh. Không trước ý, ta biết hoàn toàn (toàn giác). Không khởi động ta làm chủ nó”. Và cứ thế, chàng luyện tập từ năm này cho đến năm khác…Mọi sự việc hiện hữu xảy ra bên ngoài, chàng không hề hay biết gì cả. Những tháng ngày hãi hùng trôi qua đã in dậm vào tâm khảm của chàng có những lúc chàng nhủ thầm:

 “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,

 Liễu ấm hoa minh hựu nhất thôn”

 

 (Núi cùng sông bặt, tưởng hết đường

 Tàng liễu, hoa giăng, hiện thôn trang). 

 

Nghĩa:

 Núi đã hết, sông đã tận cùng, nghĩ rằng không còn đường đi nữa. Nhưng sau tàng cây liễu, sau đám hoa tươi kia lại xuất hiện một thôn làng.

 

Tháng ngày trôi qua, chàng cố công trong việc trau giồi kiếm pháp. Chàng thầm nghĩ:

 -“Sống, chết chỉ là một khoảnh khắc mong manh” - chàng nghĩ, mắt đăm đăm nhìn vào thanh kiếm. Tâm trí chàng mang mang, cảm giác trống vắng, hụt hẫng xâm chiếm lòng chàng. Hình ảnh của sư phụ và những huynh đệ thuở xa xưa hiện ra trước mắt chàng. Bổng nhiên nhớ lại năm xưa cũng ngồi như thế, lại có một viên sỏi nhỏ từ đâu bay đến chạm vào đầu chàng. Những ý nghĩ mênh mang chợt biến mất trở về thực tế, chàng mới thực hiểu rằng Lão Bá luôn luôn chỉ dạy mình bằng cách phải tập trung tư tưởng và đề phòng và phải tránh né bất kỳ lúc nào, dù là nấu ăn, chẻ củi hoặc lúc đang tập dợt…Lão Bá quả tình là vị thầy đáng kính của chàng, người đã giúp chàng tu luyện để sau này sẽ trở thành một tay kiếm lừng danh, trừ gian, diệt lận…cứu đời và mong mỏi kèm theo sự hy vọng chàng sẽ đứng lên gầy dựng lại giang sơn từ tay vị vua tham tàn, bạc nhược chỉ biết sống trên xương máu dân lành. Một hoài bão mà chàng cũng như Lão Bá từng tò chuyện, khiến chàng luôn luôn khắc kỷ vào tâm khảm..

 Nhớ lại, đôi mắt trầm tư của Lão Bá nhìn thấu suốt và thường hay chỉ dạy cho chàng:

 “Thần kiếm nguyên lai vô nhị đạo”.

 

 

Thần đạo và kiếm đạo vốn dĩ chỉ là một. Vì cả hai cùng dẫn đưa con người đến cùng một mục đích là diệt ngã. Lão Bá còn nhắc nhở thêm:

 -“Tâm vô trụ tức vô niệm là bất động”.

 “Khi luyện đến tột đỉnh của kiếm pháp, tâm không còn vướng mắc vào ý niệm thắng bại, cao thấp thì mới đạt được kết quả…Không nên khởi ý niệm tấn công đối phương trước, phải an nhiên tự tại, tâm được thảnh thơi…” Sau đó, Lão Bá liền khắc lên vách đá câu thơ:

 “Tâm vô ưu, thần bất động
khí uy dũngkiếm vô chiêu
”.

Lão Bá tóm lược tinh hoa kiếm pháp của mình chỉ dạy cho chàng như sau:

“Đạo của binh pháp là cái đạo của Trời Đất. Một khi người đã thấu triệt được cái lý của vũ trụ, bắt được cái nhịp của cục diện, người ta có thể an nhiên đối diện với đối thủ mà không hề nao túng”.

* * *

Chàng có tìm gặp lại được sư phụ vị thầy “chính” hay không? Đó còn tùy vào nhân duyên. (thầy, trò)

-Vị hoàng tử của triều đại trước lưu lạc đó là ai vẫn chưa thấy xuất hiện? Câu chuyện này sẽ còn có nhiều đoạn uẩn khúc. “…Dấu Xưa…”

Xin mời quý độc giả báo Trúc Lâm nhớ đón theo dõi sẽ có những đoạn hấp dẫn, gây cấn trong kỳ tới, trận chiến bất phân đó rồi sẽ ra sao? 

 

Nhuận Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn