- Tứ Diệu Đế - Tâm-Tường - Lê-Đình-Cát

23/02/201212:00 SA(Xem: 6874)
- Tứ Diệu Đế - Tâm-Tường - Lê-Đình-Cát


Tứ Diệu Đế

 

 Tâm-Tường - Lê-Đình-Cát

 

A.- Nguyên nhân và thời kỳ Phật giảng Tứ Diệu Đế:

 

Trí Phật là như thật trí, nên thuyết của Ngài hợp chánh lý, không trái sự thật. Đạo Phật là như thật đạo, nên tất cả giáo lý đều kiến tập trên chơn lý. Đây là nguyên nhân phát khởi thuyết Tứ Diệu Đế, một sự thật rõ ràng, mọi người đều có thể chứng nghiệm.

Vì giáo lý của Đức Phật không đặt nền tảng trên sự sợ hãi của những điều gì không biết, mà được xây dựng trên căn bản của những sự kiện có thể khảo sát và chứng minh bằng kinh nghiệm. Phật Giáo là thuần lý và thực nghiệm.

Đức Phật - người đầu tiên chứng nhập và thuyết minh chơn lý Tứ Diệu Đế - Sau khi đã chứng quả đắc Đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ngài liền đến vườn Lộc Giả ở Chư Thiên Đọa xứ, để độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như, những người bạn củ của Ngài. Đầu tiên năm ông nầy không chịu nghe; nhưng Ngài xuất hiện với tướng bảo trang nghiêm, lời dạy hiền hòa và có sức thu hút, họ trở lại và chú tâm nghe; sau ba phen chuyển pháp luân Tứ Diệu Đế (thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển) thành kiến mê lầm tan vỡ, trí huệ siêu thoát xuất hiện, và năm vị ấy là người đầu tiên ngộ Đạo - nhờ pháp Tứ Diệu Đế này chứng nhập quả vị A La Hán.

Mặc dù trong bài thuyết pháp này (Tứ Diệu Đế) đã chỉ được trình bày một cách vắn tắt, nhưng trong các kinh điển Phật Giáo đã có nhiều đoạn giải thích tường tận và nhờ đó chúng ta có thể tổng hợp thành một bản nhận định khá đầy đủ về căn bản tư tưởng chung cho hết thảy các tông phái Phật Giáo.

Trên phương diện lịch sữ đây là tiếng nói đầu tiên của bậc Giác Ngộ để chuyển bánh xe Pháp luân giữa thế gian, tiếng nói mở đường cho cuộc hoằng hóa độ sinh kéo dài trong 49 năm của Đức Phật. Từ giá trị lịch sữ đó, Tứ Diệu Đế nghiễm nhiên đóng một vai trò quan trọng trên phương diện tư tưởng. Đây là đạo lý nền tảng, đạo lý của những đạo lý. Chính từ đạo lỳ nầy toàn bộ tư tưởng của Phật được minh thị và xác lập, cũng chính từ đạo lý nầy mà tính chất thực tiễn và siêu việt của con người và vạn vật (Khổ Đế - Tập Đế) và đạo lý mở ra cánh cữa Giải Thoát toàn diện, của Hạnh Phúc Chân Thật, làm bứt tung mọi phiền trược sống khổ để thành tựu mục tiêu tối hậu là Niết Bàn mà ta có thể hiểu như một thực tại Siêu Việt (Diệt Đế - Đạo Đế).

 

 B.- Định Nghĩa:

 

Tứ Diệu Đế (Cattari Ariyasaccani), tức là Bốn Chân Lý thực tế và mầu nhiệm. Đó chính là Bốn Sự Thật Cao Thượng, hay cũng là Bốn Món Chắc Thật (rõ ràng, hiển nhiên) mà ai cũng có thể chứng nghiệm được, và đó cũng chính là Chân Lý trình bày những nền tảng triết lý và đạo đức của Phật Giáo.

Tứ Diệu Đế là:

1.- Khổ Đế (Dukkha) hay thực trạng khổ đau và vô thường của hết thảy mỗi hiện tượng.

2.- Tập Đế ( Samudaya) hay nguyên nhân của sự khổ.

3.- Diệt Đế (Nirodha) hay là sự chấm dứt cảnh khổ

4.- Đạo Đế (Thagga) tức con đường hay phương pháp thực hiện Diệt Đế.

 

C.- Hành Tướng của Tứ Diệu Đế:

 

I.- Khổ Đế : Cuộc đời là đau khổ. Đây là một sự thật rõ ràng. Chúng sanh chưa thoát được sự triền phược cuộc đời, đều phải chiu mọi thống khổ cay đắng:

a.- Sanh khổ: Con người khi mới lọt lòng Mẹ là đã khóc ba tiếng oa…oa…oa… đó là tượng trưng cho sự khổ rồi, cho đến lúc khôn lớn, trưởng thành vào đời lại gặp những nghịch cảnh của cuộc sống tạo thêm sự khổ khác.

b.- Đau khổ: Nổi khổ phát sinh ra do bệnh tật.

c.- Già khổ: Sự khổ đau do sự già nua, sức khỏe yếu kém, tàn tạ và trí tuệ không còn được minh mẫn, sáng suốt như lúc con trẻ.

d.- Chết khổ: Nỗi khổ đau khi sắp buông tay nhắm mắt, lìa đời.

e.- Ái biệt ly khổ: Nỗi khổ đau khi phải xa lìa những gì mà mình đã hằng yêu mến.

f.- Oán tắng hội khổ: Nỗi khổ đau khi phải giao tiếp và chung sống với người mà mình oán ghét.

g.- Cầu bất đắc khổ: Nỗi khổ đau khi những điều mà mình hằng mong cầu nhưng không được.

h.- Ngũ ấm xí thanh khổ: Nỗi khổ đau do sự mâu thuẩn tạo nên giữa con người với nhau, làm chi phối lẫn nhau; rồi đưa đến sự xung đột.

 

Nỗi khổ rất nhiều nhưng không ngoài ba nỗi khổ sau đây:

 1.- Khổ khổ: Cái thân đã là một việc khổ, lại còn gặp những hoàn cảnh ngang trái, đắng cay.

 2.- Hoại khổ: Tiêu diệt, tan rả là khổ; những gì ta ưa cũng phải tan nát, tiêu hủy, đây là một điều khổ.

 3.- Hành khổ: Xê dịch, biến đổi là khổ. Không chỉ vật chất mà cả tinh thần, tư tưởng cái ngã cũng luôn luôn bị biến dịch, thay đổi, đây cũng là một điều khổ.

 

ÌI.- Tập Đế : Quả khổ của chúng sanh hiện tại không phải vô nhân hay ngẫu nhiên mà có, nhưng chính nó đã tích trử lâu đời trong mỗi chúng sanh. Các phiền não Kiết sử, chính là nguyên nhân tạo nên khổ quả. Áy là Tập Đế (Tập là chỉ cho những Kiết sử phiền não của chúng sanh).

Kiết Sử.- Kiết: Cột chặt không buông tha. Sử: Điều khiển, sai khiến.

Nghĩa là các món phiền não ràng buộc trong 3 giới phải chịu luân hồi, sanh tử. Phiền não tuy nhiều, nhưng không ngoài 10 món căn bản sau:

Được chia ra làm 2 nhóm; Độn sử và Lợi sử.

 

1.- Độn sử:

a.- Tham: Lòng ham muốn của mỗi con người.

b.- Sân: Giận dữ, nóng nảy.

c.- Si: Ngu mê vô tri, hoặc nhận xét sai lầm nông nổi.

d.- Mạn: Ngã mạn, cống cao, chỉ biết nâng cao địa vị mình mà kềm hảm người khác.

e.- Nghi: Nghi kỵ ngờ vực, không có lòng tin.

 - Độn sử là những phiền não tánh chất nặng nề.

2.- Lợi sử:

 a.- Thân kiến: Chấp đắm sắc thân này là thiệt có, trường tồn.

 b.- Biện kiến (Tham sắc giới): Thích sống mãi trên cõi đời. Nghĩ rằng cái ta thường còn. Cố chấp, không trúng sự thật, như chấp đoạn, chấp thường.

 c.- Tà kiến (Tham vô sắc giới): Ước muốn được về cõi trời. Kiến giải tà vậy, không hợp chánh lý.

 d.- Kiến thủ: Chấp vào sự hiểu biết của mình, không chịu tin theo chính lý.

 e.- Giới cấm thủ: Tin tưởng và thực hành những giới điều sai lầm.

 - Lợi sử là những sự nhận xét sai lầm. Đến địa vị Tu-đà-hoàn thời trừ hết.

 Tóm lại Kiết sử là nguyên nhân khiến chúng ta luân hồi trong 3 cõi chịu những sự đau khổ.

 Như vậy hai món Khổ Đế và Tập Đế là nhân quả thế gian.

 

III.- Diệt Đế: Diệt Đế là diệt dục vọng, mê mờ, phiền não. Có tối thì có sáng, có đau khổ tất nhiên có Niết Bàn. Diệt đế là tịnh quả Niết Bàn.

 1.- Niết Bàn - Niết: Rơi rụng, không có hay là thoát khỏi. Bàn: Mọc lên lăn xăn. Nghĩa là tâm niệm không còn lăn xăn, luôn an trú trong cảnh vắng lặng thưòng còn nhất là đã dứt sạch sanh nhân, không còn thọ nhân chịu khổ.

Niết Bàn có 3 đặc điểm sau:

 

a.- Bất sanh: Không sanh lại vì sanh nhân đã đoạn.

b.- Tịch diệt: Thanh tịnh vắng lặng vì tâm niệm không lay động.

c.- Giải thoát: Diệt tận phiền não, thoát khỏi rừng mê, thân tâm tự tại, không còn triền phược trong biển khổ.

 

 2.- Vị thứ tu chứng: Tùy theo công hạnh tu hành, quả vị Niết Bàn cũng có sai khác.

Tiểu thừa chia ra 4 vị thứ tu chứng:

 a.- Tu-Đà-Hoàn (Dự Lưu): Những vị này đã rõ chơn lý Bốn Đế, nên đi ngược giòng đời, và đã đi vào giòng Thánh. Những vị này đã đoạn diệt được 3 phiền não: Thân kiến, Nghi và Giới Cấm Thủ. Nếu chưa đọan diệt hết các phiền não, các vị này còn phải tái sanh 7 lần nữa.

 b.- Tu-Đà-Hàm (Nhất sanh): Những vị này đã đoạn diệt thêm 2 phiền não nữa (Tham dục và Sân nhuế) và chỉ phải một lần sanh vào dục giới nữa mà thôi.

 c.- A-Na-Hàm (Bất lai): Quả vị này dành cho những ai đã chế ngự được bản ngã mình và họ sẽ không còn sanh trở lại dục giới. Nhưng họ sẽ sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên, một cõi trời Phạm Thiên thích hợp cho đến khi chứng đắc quả A-La-Hán.

 d.- A-La-Hán (Bất sanh): Quả vị Thánh của bậc A-La-Hán. Đây là quả vị cứu kinh của tiểu thừa; quả vị nầy không những chỉ thoát khỏi sự luân hồi trong ba giới, và an trú vào cảnh Vô-dư-y Niết Bàn mà còn đạt tới trí tuệ hoàn toàn với tình thương bao la đối với những kẻ còn mê lầm và khổ đau cũng như có lòng từ bi với tất cả chúng sanh.

 

IV.- Đạo Đế : Là con đường hướng dẫn kẻ bộ hành đến đích. Đây chỉ những phương pháp tu hành hướng đến quả vị Niết Bàn chư Phật.

Con đường này là “Tám Chánh Đạo”. Là con đường chánh có 8 thứ:

 

 1.- Chánh Tri Kiến: Hiểu biết đúng sự thật.

2.- Chánh Tư Duy: Suy nghĩ chơn chánh.

3.- Chánh Ngữ: Lời nói ôn hòa, ngay thẳng, hợp chanh lý.

4,- Chánh Nghiệp: hành động chân chánh, hoạt động hữu ích.

5.- Chánh Mạng: Sinh hoạt chân chánh. 

6.- Chánh Tinh Tấn: Tinh tấn trên đường tu học.

7.- Chánh Niệm: Nhớ nghĩ những việc chân chánh đã qua, suy tưởng những việc chân chánh sẽ đến, đề phòng và đoạn trừ những hành động bất chánh, những ý tưởng phi pháp.

8.- Chánh Định.- Lặng đứng các vọng duyên tâm trí, để trí huệ minh mẫn được xuất hiện (trái với tà định).

 

Tóm lại Đạo Đế là con đường hướng đến đạo quả do Đức Phật thuyết minh. Con đướng ấy chắc chắn đưa chúng ta thoát khỏi mê lầm đau khổ, chứng quả vị giác ngộ an tịnh (Niết Bàn) nên gọi là Đạo Đế. Hai món Diệt Đế và Đạo Đế là nhân quả xuất thế gian.

 

D.- Phật Tử đối với pháp Tứ Diệu Đế:

 

Đức Phật .- như đã nêu ở trên; là người đầu tiên đã chứng nhập và thuyết minh chơn lý Tứ Diệu Đế, đó là một chơn lý ẩn tàng trong vô minh của thời gian. Theo Đức Phật hạnh phúc mà con người thụ hưởng trong dục tình chỉ là thứ hạnh phúc tạm bợ, giả dối và nhất thời; duy chỉ có không đam mê, ái dục mới là hạnh phúc cao quý nhất.

 

Phật Giáo xem sự đau khổ cuả chúng sanh là điều dĩ nhiên và tìm nguyên nhân diệt trừ nó. Nơi nào có lòng tham thì nơi đó có đau khổ. Lòng tham chỉ có thể đoạn diệt được bằng cách thực hành Tám Chánh Đạo để đạt hạnh phúc cao siêu của Niết Bàn.

 

 Phật tử .- người con của đấng Giác Ngộ, chúng ta phải học và thực hành theo pháp Tứ Diệu Đế, Đức Phật đã diễn tả hai cảnh giới tương phản: Niết Bàn an tịnh và triền phược khổ đau; cùng với hai con đường mâu thuẩn khác nhau: mê lầm tội lổi và hào quang trí giác.

 

Là người Phật tử, chúng ta luôn luôn thực hành theo lời dạy của Đức Phật là đoạn trừ Tập Đế, diệt tận khổ quả và thực hành Đạo Đế để chứng Diệt Đế Niết Bàn an tịnh.,.


 Lake Forest,

Mùa Thành Đạo -2011

 

Tâm-Tường - Lê-đình-Cát

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn