- Những ngôi chùa cổ - Diệu Trí

25/05/201212:00 SA(Xem: 7670)
- Những ngôi chùa cổ - Diệu Trí



Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ tông”

(thơ Huyền Không)


Hai câu thơ trên nói lên nếp sống văn hóa của dân tộc đã đi liền với những ngôi chùa từ ngàn xưa. Vì thế, các nước Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng, ở làng nào, tỉnh nào cũng có một ngôi chùa.

 

Đến chùa, chúng ta sẽ cảm nhận được sự nhẹ nhàng, thư thái. Chùa là nơi thanh tịnh trang nghiêm. Đạo Phật là một tôn giáo lớn của nhân loại, có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm linh, là nền móng trong đời sống những dân tộc ở Á Châu.


 Đạo Phật đã có mặt trên quả đất này hơn 2500 năm. Đạo Phật đang uyển chuyển để hội nhập vào các nước Tây phương.

 

Đạo Phật đem đến cho nhân loại một tôn giáo bình đẳng, không tin vào Thượng Đế và không dựa vào bất cứ một vị thần linh nào và giáo điều - tất cả đều từ trí tuệ, lòng từ bi hỷ xả, giác ngộ để giải thoát.


Đức Phật là bậc Đại Giác đã diệt hết tham sân si. Con đường do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là con đường giải thoát, san bằng mọi bất công, truyền bá sự bình đẳng giữa người với người và mọi chúng sinh. Pháp Phật đưa đến hạnh phúc chân thật, dựa trên kinh nghiệm thực tiễn mà Đức Phật đã tìm tòi và trải qua. Phật dạy:

- Lấy từ bi hỷ xả để xóa bỏ hận thù, giúp người bất hạnh

- Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có khả năng thành Phật.

- Nếu biết tu hành, sửa đổi những lỗi lầm thì có thể được giác ngộ và giải thoát.


Đạo Phật được truyền bá vào các nước Á Châu, trong đó có Việt Nam, từ đó đã có nhiều bậc cao tăng tu hành đắc đạo. Chùa chiền được xây ra khắp nơi từ các làng xóm xa xôi hẻo lánh cho đến các thành thị; và tới bây giờ vẫn có nhiều ngôi chùa cổ từ ngàn năm vẫn còn lưu lại. Xin kể ra ở đây một số ngôi chùa cổ như sau:

 

 1-Chùa một trăm gian:


Được xây vào đời vua Lý Thái Tông. Đây là một ngôi chùa đầy sắc thái dân tộc, tọa lạc trên một khu đất rộng trên ba mẫu, chung quanh có những cánh đồng lúa. Tường xây gạch, còn kèo, cột, xà nhà, cánh cửa đều bằng gỗ có chạm trổ rất đẹp. Cửa chính của chánh điện là hai cánh lớn có chạm hình Đại Bàng nổi trên mặt gỗ. Còn những gian khác của chùa cũng đểu có cửa và các cánh cửa này có chạm hình rồng, phượng, trên mặt gỗ nổi chạm rất khéo. Trước khi bước vào sân chùa, phải đi qua một cổng gọi là tam quan, có hai sư tử đá nằm chầu hai bên đường của lối đi. Từ cổng đến sân chùa rộng khoảng 1m, được lát bằng gạch bát tràng vuông, xa chừng ¾ cây số. Chùa đã lâu năm qua nhiều thế kỷ, nên có nhiều nơi gạch bị vỡ, nhiều chỗ cỏ mọc, tường vôi cũng có nhiều chỗ loang lổ do bị hư hại và đã được trùng tu.

 

Bước vào chánh điện ở giữa có xây một tòa cao. Trên tòa có ghế gỗ lớn vuông vức, được trạm trổ hình hoa lá, chim bay lượn, và được khảm xà cừ. Tượng Đức Phật Thích Ca ngồi trên ghế theo thế kiết già. Lư hương lớn bằng sứ cổ xưa được đặt phía trước tượng của ngài. Một bức bình phong chắn ngang. Còn những gian chùa khác thì bày rất nhiều tượng của các vị Phật và các vị bồ tát. Tòa thờ của các Ngài cũng đều bằng gỗ được sơn đỏ, tuy có thấp hơn so với tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhiều bức hoành phi, câu đối bằng gỗ được thếp vàng, trên được chạm trổ và có những hàng chữ nho, tuy mầu sơn đã phai nhưng vẫn còn thật trang nghiêm. Mỗi gian chùa đều có rất nhiều cột gỗ lim đen bóng. Ngoài hành lang, gác chuông bằng gỗ đã bị mục và được trùng tu chút ít.

 

2. Chùa Hương Hải:


 Được xây cất vào năm 1041 có ghi trên tường. Chùa không lớn, chỉ vuông vức khoảng ba gian, thờ Đức Phật Thích Ca, tượng đồng đen không lớn lắm. Nhiều tượng khác như tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát được tạc bằng gỗ. Phía sau chánh điện thờ Tổ hình vẽ trên tường, tuy không tạc tượng nhưng những nét vẽ xưa trông vô cùng tinh xảo. Các cánh cửa làm rất dầy và kiên cố, tuy nhiên chung quanh tường đã quét vôi mới. Phía sau chùa có một cái ao nhỏ được một hàng cây bao quanh, nhìn rất cổ kính. Mái đã được lợp lại, chuông trống ở đây cũng trung bình, không lớn lắm. Tất cả đều đã xa xưa nên mầu sắc phai nhạt, khiến cho người nhìn cảm thấy bâng khuâng trong lòng. 

 

 3. Chùa Kiến Sở:


 Ngoài việc thờ Phật, chung quanh chánh điện cũng thờ những thánh, những vị anh hùng dân tộc đã có công xây dựng đất nước từ thuở khai quốc, và cũng thờ những vị minh quân của các triều đại xa xưa. Tất cả đều được tạc tượng và trưng bày từ khi lập chùa nên không ai dám thay đổi. Những bức hoành phi, câu đối được gắn chặt vào tường, vào xà nhà trên cao. Các bát nhang, bình bông bằng đồ cổ đã bạc mầu và cũng được để nơi bàn thờ bằng xi măng trên kệ thờ xây gạch. Những gươm, ngựa bằng xi măng vẫn còn nguyên vẹn, các cánh cửa chùa toàn gỗ lim, cột kèo cũng bằng gỗ, trên nóc chùa rất kiên cố, có đắp tượng rồng. Từ sân trước lên chánh điện phải qua ba bậc tam cấp. Ngoài hành lang trước chánh điện cũng lát gạch, tuy nhiên vì đã trải qua bao nhiêu năm tháng nhiều thế kỷ nên nhìn cũng rất cũ kĩ.


 4. Chùa 100 cây cột gỗ lim:


 Chùa xây trên một mẫu đất cao hơn mặt sân chùa ba bậc tam cấp cao. Sân chùa để nhiều đỉnh đồng và hai hàng voi phục cũng bằng đồng dọc theo hai bên, lát gạch bát tràng, với hai hàng cây dọc theo hai bên sân gạch ra đến tam quan. Phía sau có một nhà tổ và một nhà trù, cũng xây tường ngăn. Nhìn lên mái ngói chùa và nhà tổ, nhà trù, nhiều chỗ có rêu mọc, tuy có nhiều chỗ đã trùng tu nhưng có lẽ chùa này đã xây từ nhiều thế kỷ trước nên không tránh được hư hoại theo thời gian. Trong chánh điện toàn bằng gỗ, kèo cột, xà nhà một mầu gỗ đen bóng rất chắc chắn. Các tượng Phật và Bồ Tát cũng được tạc bằng gỗ qúy, bình hương và đỉnh bằng đồng được gắn chặt trên bàn thờ xây gạch. Dân địa phương cho biết chùa chỉ mở cửa vào 4 ngày là 30, mùng 1, 14, 15, vì chùa này xây trên một ngọn đồi thấp rất xa vùng dân cư.

 

 5. Chùa Mía:


 Chùa này thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng lớn đứng trên tòa sen bằng sứ và 7 tượng nhỏ cũng bằng đồng để chung quanh. Thầy trụ trì nói qua về hạnh nguyện từ bi hỷ xả, sự nhu hòa của ngài như những đức tính của một người mẹ. Ngoài ra còn có nhiều tượng với các hình thái khác nhau để độ chúng sinh, tuỳ theo cảm ứng và mầu nhiệm như trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Quán Thế Âm Bồ Tát linh cảm độ những chúng sinh nào cầu nguyện đến ngài, tùy theo duyên nghiệp mà ứng hiện.

 

 6. Chùa thờ Tam Tổ Trúc Lâm


 Ngoài Tam Tổ Trúc Lâm, chùa còn đúc một bức tượng của ngài trung thần Nguyễn Trãi. Sau khi chết, ngài được đưa về an tang tại đây và thờ phụng. Lăng của ngài được xây sau chùa, tuy nhiên sau nhiều thế kỷ mưa nắng, nền gạch trong lăng ngài cũng bị phai mầu và sứt mẻ.

 

 7. Chùa Phổ Minh:


 Được lập vào năm 1262, đời vua Trần Thánh Tôn, cũng thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn bằng đồng, phía sau thờ các vị Tổ đã khai sáng đạo Phật tại Việt Nam. Chùa Phổ Minh có một tháp cao 60m để thờ tượng vua Trần Thánh Tôn là vị vua xây chùa này. Ngoài việc an dân, trị nước, ngài hay đến chùa để tọa thiền, tu tập lúc an nhàn. Ngài là vị vua nhiều đức độ, anh minh nên quốc gia được thái bình thịnh trị, dân chúng có đời sống ấm no hạnh phúc. Dân thời đó có khắc một bảng đồng bằng chữ nho để ca tụng ngài.

 

Nhân mùa Đản Sanh Phật Lịch 2556, chúng tôi kính chúc quý vị luôn sống an vui trong ánh hào quang Đức Phật.  

 

  Diệu Trí


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn