- Bát Nhã Mẹ Của Phật - Bồ-Tát

10/09/201312:00 SA(Xem: 3253)
- Bát Nhã Mẹ Của Phật - Bồ-Tát




Bát Nhã Mẹ Của Phật - Bồ-Tát



HT. Thích Chơn Thành

 

Mùa Vu-lan đang đến, miền Nam Cali năm nay khơng khí bất thường, mới sáu, bảy giờ tối khí trời lành lạnh. Nhìn các loại thảo mộc, lá vẫn cịn xanh, hoa vẫn cịn tươi, đứng ngắm vẫn cịn xinh đẹp. Các lồi thảo mộc một phần nằm lịm trongđất mẹ, một phần nằm bên trên hấp thụ thời tiết, nên nhìn các loại thảo mộc, chúng ta có thể hiểu được thời tiết. Thực vậy, những năm trước, hoa sau vườn nở rất sớm, kéo dài đến cả tháng, nhưng năm nay, hoa mới khoe mằu sắc thắm,sau đĩ chỉ vài ngày, thì hoa tàn nhụy rả cả rồi. Nhìn lên cành hoa sứ đủ màu tuyệt đẹp, tôi liên tưởng đến hình ảnh một con người của mấy mươi năm trước, đúng là sắc nước hương trời ở tuổi đôi mươi, nhưng hoa đẹp cũng theo thời gian biến màu, phai sắc và hoại diệt để đi vào cõi thiên thu, lúc xuân-thì đẹp như thế nào thì ngược lại, lúc hoa tàn nhụy rửa, đau bệnh liên miên và con qủy dữ vô thường đã tiễn đưa người đẹp năm xưa đi về cõi đời đời.

 

Nhìn hoa tôi mỉm cười và nghĩ đến lời Đức Phật dạy năm xưa “Các đệ tử nên biết, Bát-Nhã Ba-La-Mật (Trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối) là Mẹ của Chư Phật, Bồ-tát” và trí-tuệ này được Đức Phật dạy rãi ráctrong các kinh điển, nhưng rõ nhất trong bộ kinh Đại-Bát-Nhã gồm 600 quyền, việt dịch chữ cở 12, gồm mười một tập, mỗi tập dày từ 967-1000 trang khổ rộng, nhưng sau cùng Đức Phật rút gọn vàotrong 246 chữ việt gọi là “Bát Nhã-Tâm Kinh” hay là Kinh Trí-Tuệ Căn Bản của Phật, vì thế Phật thường lặp đi lặp lại về Trí-Tuệ Bát-Nhã là Mẹ của Chư Phật, Bồ-Tát.

Kinh được rút quá gọn, nên ý nghĩa quá súc tích, nó bao bàm tất cả sự sinh thành suy hủy của vạn hữu vũ-trụ chỉ trong mấy câu “Sa-ri-pu-tra, khi Bồ-tát Quán-Tự-Tại dùng con mắt trí-tuệ siêu-việt để nhìn xuyên suốt các hiện tượng tâm-sinh-vật-lý, Bồ-tát Quán-Tự-Tại liền thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua tất cả mọi dính mắc, mọi khổ đau, mọi ách nạn. (Sắc thuộc về các yếu-tố vật-chất, thọ-tưởng-hành-thức thuộc về tâm-lý). Chỉ võn vẹn một câu mà bao trùm tất cả sự sinh thành suy hủy của vạn hữu vũ-trụ. Nói khác hơn, tất cả thế giới tâm-sinh- vật-lý, vạn hữu trong vô-tận-giới đều do duyên sinh causes and effect, có người dùng chữ cause+conditions+effects nhưng có lẽ chữ causes thì đúng và chính xác hơn, bởi vì hạt giống hay mầm sống là nhân hay nguyên nhân, nếu không có đất, nước, nhiệt lượng, không khí thì hạt giống không thể lên mầm được, như hạt lúa để mãi trong hộc tủ, thì nó mãi ở trạng thái khô rốc, không lên mầm được, nhưng nếu hạt lúa ấy đem để vào lòng đất hoặc chỗ ẩm ươt, có hơi ấm, có không khí và có đất, bón phân, tưới nước, diệt sâu bọ v.v hạt lúa sẽ lên mầm, ra bơng, trổ thành nhiều hạt, chín vàng cánh đồng, trơng đẹp mắt. ngày nay người ta trồng lúa chỉ cần nước, hơi ấm và không khí, nó vẫn lên mầm, mặc dù thiếu một số điều kiện, nhưng nếu có đủ điều kiện thì mầm sống vẫn tốt hơn, ví dụ khác như các nhà khoa học muốn clonning vô tính, trước hết họ phải lấy các tế bào gốc là nhân chính rồi phải cần đến phòng ốc, không khí, nhiệt lượng, ống nghiệm, thuốc men, các dụng cụ liên quan đến y khoa vân vân là những nhân cần và đủ để thành thai nhi. Và sau khi ra đời, cần đến các thức ăn, thức uống, tình thương yêu của cha mẹ, anh chị em, người thân, vệ sinh, xã-hội tốt, giáo dục tốt, tình thương yêu của cha mẹ, anh chị em, người thân, đạo đức vân vân là những duyên tốt hay những nhân tốt để trở thành những con người tốt, hữu dụng cho cá nhân, gia đình, xã-hội. Vì thế nói những duyên conditions, hay những nhân causes cũng được, vì thiếu một trong các nhân trên đều bị khiếm khuyết, giảm bớt phần tốt của nhân chính.

 

Từ luật duyên sinh mà vạn hữu vũ-trụ được hiện cĩ, lớn lên, suy tàn, hoại diệt rồi cứ như thế nối tiếp mãi trong dòng sinh diệt, diệt sinh. Và cũng từ luật duyên sinh này mà vạn hữu được hiện hữu, và không hiện hữu. Từ luật nhân duyên sinh mà vạn hữu vô-tận-giới luôn luôn biến chuyển, biến đổi trong mỗi cái nháy mắt, mỗi khoảnh khắc cĩ hàng tỉ tỉ tế bào trong than chúng ta biến thiên sinh diệt, vì vậy chúng ta chỉ sống trong một khoảnh khắc rồi chết trong khoảnh khắc, nếu bác sĩ chụp quang tuyến cho chúng ta vào phim để nhìn thẳng vào máy quang tuyến X, chúng ta sẽ trực giác thấy ngay đời sống của mình chỉ là cuộc sống tạm bợ trong mỗi khoảnh khắc mà thơi, bởi vì hàng tỉ tỉ tế bào sinh và hàng tỉ tế bào diệt, sinh sinh diệt diệt khơng ngừng, nên đời sống rất vô-thường, vì vô thường cho nên gọi là không. Nhưng tạïi sao có sự sinh diệt, biến đỗi trùng trùng điệp điệp như vậy? và tại sao sự thay đổi của vạn vật được gọi là không? như vậy phải chăng không, có nghĩa là không có gì, nên mới không bị dính mắc? Vì Đức Quán Tự-Tại còn tên khác là Đức Quán-Thế Âm còn có nghĩa khác Quán-Thế -Âm cũng có nghĩa rằng chính mình có thể quán chiếu, nhìn thấy rõ vạn sự vạn vật như Đức Quán-Thế -Âm, bởi vì Đức Phật đã dạy “tâm hồn của chúng ta như một họa sĩ tuyệt tài, vẽ họa muơn hình vạn trạng, vẽ ra Phật, trời, vạn hữu vũ trụ, vẽ ra muơn lồi và tâm của chúng ta cũng cĩ một mặt trời chiếu sáng muôn nơi, nhưng vì lịng tham đắm tạo thành những đám mây trắng, đám mây đen, đám mây đen nghìn nghịt che lấp ít hay nhiều, có thể làm cho trời đất tối đen như bầu trời đêm không trăng sao. Những đám mây trắng, đen hoặc đen nghìn nghịt ấy, chính là những lòng ham muốn, những khát vọng bất chính, những đòi hỏi của con lợn lòng, những lòng tham lam quá độ, những ý tưởng khao khát, những cơn giận hờn quá trớn, những sự thù hằng, hay thù hận muốn ăn thua đủ vân vân làm cho tâm hồn mình bị đen tối, mờ mịt như đêm đen. Ngược lại, nếu tâm ta được an ổn, đươïc trong sạch như viễn vọng kính tinh anh, ví như hubble telescop thì bao nhiêu hành tinh gần, xa hàng triệu, hàng tỉ năm ánh sáng cũng cĩ thể hiện rõ vào trong mặt kiến. Cũng như vậy, khi tâm ta được thanh tịnh, trong veo, không chút mây mờ của lịng khát vọng, lịng ham muốn, dục vọng, tham vọng v.v …gọi tắt là tham-sân-si-mạn nghi (kiêu căn ngạo mạn)-ác kiến (thấy khơng rõ, nghĩ sai lệch) thì chúng ta sẽ thấy rõ tất cả hiện tượng hữu hình, vơ hình trong vơ-tận-giới (pháp giới, vũ-trụ) như những hạt gạo nằm trong bàn tay. Vi thế, Đức Phật dạy: I became a Buddha, you will become a buddha”. Lời dạy nầy rất thâm thúy, cĩ nhiều ý nghĩa, như một metaphore, tùy trình độ mà hiểu khác nhau như trên bình diện siêu việt thì ai cũng cĩ thể thành Phật được, ngay cả các lồi chúng sinh dưới đáy biển, con gái mới sáu tuổi, con vua rồng Ta-Kiệt-La đã vượt qua đầu ĩc phong kiến, bảo thủ và lịng hẹp hịi cố chấp của ngài Xá-Lợi-Phất một bậc trưởng lảo cĩ trí-tuệ nhưng vẫn chưa đạt được Tâm-Bát-Nhã, nên cho rằng thân phận đàn bà rất kém cỏi, rất dơ nhớpkhơng thể làm vua của lồi ma, lồi quỷ v.v…thì làm thế nào cĩ thể thành Phật được. Nhưng trong kinh Pháp Hoa, Long-Nữ vừa lên sáu tuổi vẫn mỉm cười, ung dung đem viên ngọc ma-ni qúy nhất lên dâng cúng đức Phật, đức Phật hoan hỷ đưa tay nhận và cảm ơn. Cơ Long Nữ quay lại hỏi ngài Xá-Lợi-Phất, kính thưa ngài Xá-Lợi-Phất, vừa rồi tơi đem viên ngọc ma-ni lên dâng cúng Đức Phật và được ngàiđưa tay tiếp nhận, việc ấy cĩ nhanh khơng?

Rất nhanh. Xá-Lợi-Phất đáp Cơ Long Nữ liền đáp: thưa trưởng lão Xá-Lợi-Phất, sự thành Phật của tơi cịn nhanh hơn nhiều. Nĩi xong, cơ Long Nữ vận thần thơng bay lên hư khơng rồi trụ giữa mọi người và giảng pháp cho đại chúng nghe.

Từ đĩ trưởng lão Xá-Lợi Phất đã xả bỏ tâm hẹp hịi, cố chấp và mở rộng lịng để giác ngộ.

Qua lời dạy “I became a Budha, you will become a Budha” và câu chuyện cơ Long Nữ sáu tuổi phá tan lịng hẹp hịi cố chấp của chúng sinh, dạy cho mọi người, mọi chúng sinh phải biết cởi mở, xả bỏ mọi cố chấp, phải mở rộng đầu ĩc ra (open mind) để giác ngộ giải thốt (liberty). Trên bình diện xã-hội đây là một bài học về tinh thần dân chủ.

 

Sau cuộc di tản 1975 của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản, vơ số trẻ con các gia đình nghèo ở Việt Nam đã thành đạt được những học vị cao, như các nhà khoa học, các triết gia, bác sĩ, kỷ sư v.v…nếu ở việt nam thì khơng thể làm gì hơn là mang thân phận của kẻ nghèo, thiếu học như các xã-hội phong kiến “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa chỉ quyét lá đa”.

 

Đây là một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nhất trong thời đại đức Phật, nhưng đáng tiếc, chúng sinh chỉ vì quyền lợi của giai cấp phong kiến nên khơng hiểu nổi ý nghĩa cách mạng xã-hội qua những lời dạy độc đáo này mà các chủ nghĩa phong kiến, độc tài rất sợ tinh thần cách mạng xã-hội dân chủ và nhân quyền của phật giáo.

 

Đức Phật và các Bồ Tát như Đức Quán-Thế-Aâm đã thấy rõ vạn hữu đều không có tính độc lập, không có tính riêng biệt để tự hình thành nên được gọi là vô-tự-tánh, vì không có tự tính độc lập, riêng biệt để tự hình thành, nghĩa là tất cả là một và một cũng chính là tất cả, chúng liên quan lẫn nhau một cách trùng trùng điệp điệp nên bản chất của nó là hằng biến, là vô thường, và vô thường nên Phật gọi là không, nghĩa là không là vô thường, vô thường gọi là không, nói theo bình dân thì biến chuyển được gọi là không, không là biến chuyển liên lũy. Nhưng trong vơ thường hằng biến mà hằng hữu, trong hằng hữu chỉ hiện hữu trong giây lát rồi hằng biến trong vơ thường, nên sắc khơng khác với khơng, khơng chẳng khác sắc. Vì thấy rõ vạn vật liên quan chằng chịt, nên tác dụng qua lại, vừa giúp nhau vừa mâu thuẫn nhau, khiến cho vạn vật luôn luôn biến đổi, thấy rõ như vậy, nên Tâm của Bồ-tát không bị lầm mê, vì tâm trong suốt nên thấy rõ ràng, do vậy không bị thấy lầm, không bị biết lầm, nên không bị mê hoặc làm mờ tâm trí, vì tâm không bị mờ đục hay không bị tối tăm nên không ôm níu, không cố chấp, nên không bị dính mắc, không bị trói buột, vượt thoát mọi khổ đau, mọi ách nạn, vượt qua mọi sinh sinh tử tử luân hồi. Cịn chúng ta thì sao? Vì khơng biết, khơng buơng xả, cứ ơm ấp mãi nên luơn luơn bị dính mắc, bị rang buộc, bị hấp dẫn của tình tiền danh lợi trĩi chặt mãi, khơng ra khỏi chốn sinh sinh tửtử. Từ nay, chúng ta nguyện buơng xả để được tự do, giải thốt, tự do hiến mình đi vào sinh tử để độ sinh.

 

Trong lúc đó, chúng ta thấy, hiểu lầm rằng vạn hữu đều thường còn, đều vững chắc, nên chúng ta mê, mê một cách say đắm, do mê lầm nên cố gắng ôm níu, ôm chấp, siết chặt vào “cái tôi” và “cái của tôi, của chúng tôi, của chúng ta, của anh, của chị”, tùy vào ý niệm về sở hữu nhiều hay ít, sâu đậm hay ít sâu đậm mà lòng của chúng ta bị dính mắc, bị trói buộc ít hoặc nhiều hoặc bám chặt cứng như đỉa hút máu người, không bao giờ thả, và do đó chúng ta bị sự sung sướng, bị sự hạnh phúc giả tạm, nhất thời bị ràng rịt, bị trói buột và rồi nó dẫn dắt chúng ta quay cuồn cuộn trong vòng sinh-tử-luân hồi. Ví như một người lầm nghĩ rằng mình vô sòng bài, đánh bạc sẽ nhanh có được nhiều tiền, nhưng khi bước vào sòng bài liền bị sòng bài làm mình bị mê hoặc, vì sự đỏ đen và tiền bạc có sức hấp dẫn làm mờ cả mắt, làm kín cả tai, làm đen tối cả tâm hồn, vì lầm nghĩ như vậy nên mình bị mê, bị cuốn hút vào những quân bài, những đỏ đen, ngày đêm cặm cụi trên con bài, càng thua càng muốn cố gắng gỡ, nhưng càng cố gỡ, càng thua, càng thua càng bị kẹt, không thể giải thoát, vì sức hấp dẫn mảnh liệt của canh bài, của đồng tiền.

 

Ngược lại, khi mắt của chúng ta thấy rõ rằng canh bài là những sự họp tan bất thường, tâm chúng ta sẽ tỉnh được cơn lầm mê và thế là chúng ta đã vượt qua mạng lưới mê lầm hay lầm mê của giặc phiền não, của con quỷ đảo điên, hạnh phúc và sự sung sướng nhất thời. Sự vượt qua như thế, kinh bát-nhã gọi là yết-đế, tiếng bắc Ấn-Độ gọi là Gatê có nghĩa là vượt qua. Sự vượt qua như vậy, con mắt của chúng ta trở nên trong sáng, thân tâm được tự do tự tại, giải thoát như gió đã hết, sóng không còn, mặt nước hồ thu đã trong veo, lúc đó chúng ta dùng con mắt thanh tịnh này để xem xét thì thế giới tâm lý và thế giới vật lý không có gì khác biệt cả, nó chỉ khác nhau với con mắt phiền não, con mắt nhị nguyên tương đối ở chỗ tâm thanh tịnh của Bồ-Tát và tâm không thanh tịnh của chúng sinh. Vì vậy, bằng con mắt thanh tịnh và siêu-việt tuyệt-đối, Bồ-tát Quán-Tự-Tại thấy vạn hữu đều như nhau cả. Do đó, Phật dạy: “Này Xá-Lợi-Tử, sắc chng khác không, không chẳng khác sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy” (thân thể hay thế giới vật lý. Thọ, tưởng, hành, thức) (tâm hồn)”. Tuy nhiên câu này có thể có hai cách nhìn khác nhau, một cách nhìn bằng đệ nhị nghĩa đế còn được gọi là cái nhìn tục đế theo ngôn ngữ chuyên môn của nhà Phật, nói rõ hơn là cái nhìn bằng con mắt của thế gian, bao hàm cả cái nhìn thường nghiệm và cái nhìn của nhà triết học, nhà khoa học và ngay cả cái nhìn của chúng sinh ở các thiên đường (haven hoặc paradise, mặc dù có cái nhìn cao xa hơn, rộng rãi hơn, đời sống hạnh phúc hơn v.v...loài người và các loài chúng sinh khác (other living beings). Và một cách nhìn khác của đệ nhất nghĩa đế còn được mệnh danh là chân-đế, nói rất dễ hiểu là cái nhìn bằng con mắt siêu việt tuyệt đối. Còn một cái nhìn khác nữa là cái nhìn Nhị-Đế Dung-Thông của chư Phật và các Bồ-tát nhập thế. Tôi nói như vậy cũng chỉ là dùng phương pháp của phượng tiện hay cưỡng ngôn mà thôi.

 

Chính vì vậy, nó được các nhà thông thái giãi thích khác nhau, lại có những người không hiểu mà làm như là nhà triết học thượng thặng, nhưng thực trống rỗng, họ nhắm vào mục đích, có thể là không hiểu hoặc hiểu sơ sơ lóm thóm, cũng có thể là dùng ngôn ngữ dao to búa lớn của triết học để xuyên tạc một giáo lý hay một thứ triết lý khác, tình trạng này cũng không phải ít, ngay cả sự thiếu hiểu biết về cái biết không chấp vào văn tự chữ nghĩa của Đạo-Dục, một trong bốn đệ tử của Tổ (Đạt-Ma), cũng là người đầu tiên đứng ra trình bày sự hiểu biết của mình về Đạo, nhưng Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma bảo: “con mới chỉ hiểu sơ sơ lớp da của ta”. Nói tóm lại, chúng ta chỉ điểm qua mấy chữ “Năm-Uẩn Đều Không”.....”Này Xá-Lợi-Phất, Sắc Chẳng Khác Không, Không Chẳng Khác Sắc, Thọ Tưởng Hành Thức Cũng Như Vậy”, chỉ chừng ấy chữ cũng đã làm tốn biết bao nhiêu giấy mực để giải thích bằng nhiều cách suy nghĩ khác nhau, tùy vào sự hiểu biết của mỗi người.

 

Nếu chúng ta dùng con mắt thường nghiệm để xem xét sẽ thấy rằng, cuộc đời sao vô thường đến thế, ví dụ một người thường mới khi sáng gặp một bạn trẻ đi ngang nhà, cả hai nhìn nhau, cười và chào hỏi một cách hoan hỷ, bỗng nhiên đến trưa anh bạn trẻ chẳng may bị tai nạn nên qua đời, người mới gặp khi sáng nghe tin, chị cảm thấy rất buồn bã và than thở rồi nói, đúng là không. Vì khi sáng thấy rõ nó có đó, bây giờ đã ra người thiên cổ, nên không. Ở đây, người ta không dùng dùng chữ vô thường mà người ta dùng chữ không để nói lên tính vô thường của kiếp người.

 

Ngược lại trong những thế kỷ trước, một số các nhà triết học như Eshopenhaur quan niệm vạn hữu đều là không, nhưng “quan niệm không” này có nghĩa là không có gì, đời là vô nghĩa. Đến khi khoa học bắt đầu, các nhà khoa học quan niệm thế giới vẫn có đó, vẫn hiện hữu như một thực tại bất biến, vì các dụng cụ khoa học còn quá thô sơ, nên chưa đi sâu được vào thế giới vật lý, nhưng khi bước vào nửa thế kỷ hai mươi, dụng cụ khoa học như kính hiền vi trở nên tốt hơn, mặc dù vẫn còn quá thô sơ, nên họ chỉ nhìn đến các nguyên tử là hết, vì vậy, họ quan niệm nguyên tử là đơn vị căn bản đã tạo nên vạn hữu vũ-trụ, nhưng từ khi khoa học lượng tử xuất hiện, các nhà khoa học vật lý dùng các kính hiển vi tinh tế hơn, họ quan sát thế giới vật lý luôn luôn chuyển động, vì không có một vật gì đứng yên, nên thế giới chỉ là thế giới tương đối.

 

Nhưng khoa học mỗi ngày càng tiến cao hơn, cuối thế kỷ hai mươi, các nhà khoa học vật lý nhờ các dụng cụ khoa học tối tân hơn, họ phóng đại các nguyên tử và đi sâu hơn vào các trung tánh tử, rồi đi sâu vào thế giới của Quark, thì thấy thế giới Quark trở thành những hạt ảo, biến hóa liên miên không còn là thực nữa và cứ như thế, các nhà vật-lý lặn sâu hơn thì quả thực không còn gì khác hơn là thế giới trống không. Vì vậy, các nhà khoa học vật lý cho rằng vũ-trụ vạn-hữu được xây dựng lên từ thế giới không. Và đến đầu thế kỷ hai mươi mốt, các nhà khoa học vật lý tuyên bố rằng vũ-trụ vạn hữu như đang đánh lừa con người, nghĩa là vạn hữu vũ trụ chỉ được hiện hữu như những ảnh tượng trong giấc mơ, nên không có thực.

 

Bây giờ chúng ta hãy lắng lòng, đọc nhiều lần về chữ Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh, có người bỏ chữ Ba-La-Mật-Đa, để rút gọn lại thành Bát-Nhã Tâm Kinh, nguyên ngữ Bắc Ấn tức chữ Xăng-cờ-rít đọc là Prajna Paramita Sutra, người Anh, người Mỹ giản lượt thành the Heart Sutra (Tâm Kinh). Vì thế, nhiều người cho rằng Tâm Kinh là bộ kinh trung tâm điểm của toàn bộ kinh Đại Bát Nhã. Rồi cũng có người diễn dịch rằng Tâm Kinh là bộ kinh cốt yếu nói về tâm hồn con người, nói cao hơn là Tâm Siêu-Việt. Bởi vì, Prajna có nghĩa là tâm, họ hiểu như thế cũng không phải là sai, vì trong kinh có đoạn nói về thế giới vật chất và thế giới tâm linh như sắc (vật chất) còn thọ, tưởng, hành, thức thuộc về thế giới tâm linh. Lại có người bảo rằng Bộ Bát Nhã Tâm Kinh trình bày về Cái Tâm Giác Ngộ hay Phật Tính, hay Như-Lai-Tạng-Tánh. Vì Tâm Giác Ngộ là Tâm Siêu-Việt Tuyệt Đối, vượt lên trên tất cả phạm trù đúng sai, phải trái nghĩa là vượt qua thế giới ý niệm, ngôn ngữ, ký hiệu kể cả các ký hiệu về toán học, luận lý. Bởi vì, tâm Giác Ngộ hay Phật Tính siêu việt cả không gian bao la và thời gian vô tận. Đó chính là cốt lỏi của Ma-ha Bát-Nhã Ba-la Mật-Đa Tâm Kinh. Vì vậy, tuy Bát- Nhã Ba-La Mật-Đa Tâm Kinh rất ngắn gọn nhưng rất bao quát cả vạn-hữu vũ-trụ, bao gồm các phạm trù của thế giới có và thế giới không. Ngay câu đầu của Bát-Nhã Tâm-Kinh đã nói thẳng vào thế giới duyên sinh, tức vạn-hữu vô-tận-giới hay vạn-hữu vũ-trụ. Câu mở đầu, Đức Phật gọi Xá-Lợi-Phất, vì chỉ có Ngài Sa-ri-pu-tra là bậc đại-trí-tuệ, đại-trí-tuệ ở đây hoàn toàn không phải là trí-tuệ của triết học xưa nay của nhân loại hay khoa học thực nghiệm, bởi vì các thứ trí-tuệ này là trí-tuệ của người đời, trí-tuệ phân biệt của nhân loại, của chúng sinh trong ba cõi là thế giới mà chúng sinh dùng dục tình và bản năng sinh tồn, để truyền giống. Ngược lại đại-trí-tuệ của Sariputra là trí-tuệ vô-sai-biệt, trí tuệ Bát-Nhã nói dễ hiểu hơn là trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối.

 

Từ Trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối này mà Ngài Sa-ri-pu-tra mới có thể hiểu được, cũng như lúc Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên giữa đại chúng trong hội Linh Sơn, gồm một nghìn hai trăm năm mươi đệ tử, kể cả các bậc đại-trí, ngay cả ngài Sa-ri-pu-tra v.v...vẫn chưa hiểu nỗi, duy chỉ có Ngài Ma-ha Ca-Diếp mỉm cười nên câu chuyện có một không hai này được gọi là “Niêm Hoa Vi Tiếu”, Đức Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca-Diếp mỉm cười; cũng như câu chuyện Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma, nghe lời chỉ dạy của tổ Pra-jna-tra phiên âm thành Bát-Nhã Đa-La, vị Tổ Sư thứ 27 trong truyền thống Phật-giáo Ấn-Độ, Ngài dạy: “Bồ-Đề Đạt-Ma hãy lắng nghe kỷ, sau khi ta diệt độ, con phải kiên nhẫn chờ đợi, đến khi được 68 tuổi, con mới lên đường sang Trung-Quốc (đơng độ), để tế độ chúng sinh ở xứ ấy, có một đệ tử đang chờ con bên đó”.

 

Sau khi Tổ Pra-jna-tra nhập niết-bàn, đệ tử Bồ-Đề Đạt-Ma, vâng lời thầy dặn, cho đến đúng 68 tuổi, Bồ-Đề-Đạt-Ma nhân dịp vị vua của nước Dekken, gọi Ngài bằng chú ruột, tức con của người anh Cả, Bồ-Đề Đạt-Ma con thứ ba của vua Chi-Hương, được vua cha truyền ngôi nhưng Bồ-Đề Đạt-Ma xem vương vị như chiếc dẹp rách, không ham thích, nên bỏ đi tu, được Tổ Prajnatra (Bát-Nhã Đa-La) đặt Pháp Danh là Bodhidharma phiên âm là Bồ-đề Đạt-ma.

 

Vị vua gọi Ngài bằng Chú ruột này, lâu quá không gặp mặt chú và cứ tưởng rằng chú Bodhi Tara đã chết rồi, lúc đó vị vua gọi Bodhi Tara bằng chú ruột, trở chứng đàn áp phật giáo, nhưng gặp phải một vị Tỳ-kheo đã chứng quả A-la-hán, can ngăn, lúc đó nhà vua mới biết được Chú mình vẫn còn sống, nhà vua liền bỏ việc đàn áp phật giáo, và đến chùa thăm chú là Tổ-sư Bồ-đề Đạt-ma đã được Tổ Prajnatra (Bát-Nhã Đa-La) truyền tâm ấn cho Bồ-Đề Đạt-Ma trở thành Tổ Thứ 28 theo truyền thống Phật-Giáo Ấn-Độ, kể từ Tổ Ma-ha Ca-Diếp và Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma trở thành vị Tổ-Sư Thứ Nhất, theo truyền thống thiền tông Trung Quốc và các Nước Á-Châu.

 

Sau khi Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma rời khỏi Ấn-Độ lên đường sang Trung-Quốc, theo lời dặn dò của Tổ Prajnatra, tổ thứ 27 trong truyền thống phật giáo Ấn-độ, tìm vị đệ tử truyền Tâm-Ấn của Phật, ngài phải vượt qua nhiều gian nan, lắm chông gai và rất nhiều thử thách, có nhiều lần đứng kề với tử thần, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả mọi hiểm nguy, và cánh hoa của tâm đại bi luôn luôn nở trong lòng ngài, nên Ngài yêu thương tất cả, kể cả những người thường xuyên tìm cách giết hại mình. Đối với người đời, mỗi khi gặp các trở ngại thì buồn khổ, than vãn, rên rĩ, thoái chí, khi gặp kẻ muốn hãm hại thì xem họ như kẻ thù bất cộng, đời ta chưa trả được mối thù, thì nuốt hận và dặn dò con phải tìm cách trả cho được mối hận của ông, của cha đã mang xuống tuyền đài, nếu con chưa có dịp trả thù, thì họ khuyến khích đời cháu cố gắng trả cho được mối hận thù xưa của ông nội, ông ngoại v.v....Nhưng đối với Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma thì Ngài xem mọi hiểm nguy như những sự thử thách, lòng kiên nhẫn Ba-La-Mật tăng trưởng, những gai gốc, những hiểm nạn là các bao phân mầu nhiệm làm cho cánh hoa của lòng đại bi trở nên tuyệt đẹp, ngài xem những kẻ muốn giết hại ngài là những bậc thầy tốt làm cho sức nhẫn nhục Ba-La-Mật trở nên vững chắc, tâm đại-bi và trí-tuệ bát-nhã bừng sáng.

 

Sau Khi Đến Trung-Quốc.

Trung Quốc lúc bấy giờ chia thành hai nước Nam Lương và Bắc Ngụy, nghĩa là một nước phương nam do vua Lương-Võ cai trị người ta thường gọi là Lương Võ Đế . Nước Nam dưới sự cai trị của Lương Võ Đế, đất nước được hòa bình, nhân dân rất an lạc ngược lại nước phương bắc do vua Ngụy cai trị người ta thường gọi là Nước Bắc Ngụy, chiến tranh liên miên, dân chúng lầm than cơ cực.

 

Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma đã trải qua nhiều sóng gió và đã đến được nước Bắc Ngụy, nhưng vì chiến tranh loạn lạc nổi lên khắp nơi, lòng người không thuận lắm, ngài vào nước Nam Lương, dưới sự cai trị của Lương-Võ Đế, nhà vua là một Phật Tử rất thuần thành, ngài rất vui mừng, khi được tin một nhà sư từ Ấn-Độ sang, nên Lương Võ-Đế tìm cách mời Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma vào triều để học hỏi phật pháp, nhưng đáng tiếc, Lương Võ Đế làm rất nhiều việc lành, xây nhiều chùa, nuôi nhiều tăng chúng, nhưng vẫn còn nặng tâm phàm phu và chưa đạt đến tâm siêu-việt hay trí Bát-Nhã nên phiền não khởi nhiều, tâm ưa danh, muốn được nhiều người ca tụng, nhiều người biết đến sự cúng dường, bởi vì danh tướng chỉ do các duyên sinh ra, vì do duyên sinh nên nó chỉ là huyển danh mà không phải là thực danh. Người đời vì mê lầm, do các hạt giống được gieo vào tàng thức (cái hardish vô tận), mỗi đời mỗi nhiều, mỗi kiếp mỗi tăng, nên từ những khái niệm hợp với vạn hữu vô-tận-giới, nó tạo ra vô lượng vô biên sự hiểu biết rồi từ đó con người gắn bó với nó, cho vạn hữu đều là thật, là thật có, vì nó dàng ra trước mắt mọi người kia kìa, nhưng họ không biết rằng vạn hữu vô-tận-giới kia chỉ hiện có và có thực khi nào ý thức của chúng ta khởi lên những ý niệm về nó, bởi vì nếu không có con người, nói rõ là nếu không ý thức con người, thì vạn hữu vô-tận-giới kia hiện có với ai? preposition này rất quan trọng, bởi vì từ vô thỉ đến nay, ta chưa hề nghe hòn núi lớn kia nói với tôi rằng, nó đang có mặt trên đời này mà tôi chỉ biết rằng nó hiện có là vì tôi hiện có ở đây, nói rõ hơn nữa rằng:vạn hữu vũ-trụ đang hiện cĩ, khi nào ý thức hay tâm thức của tôi để ý đến nó, mắt tôi nhìn đến nó, nếu tôi đứng đây mà tôi đangbâng khuâng, đang bận nói chuyện với những người bạn đang bao quanh tôi, thì nó cũng không hiện có. Nếu tâm hồn con người không để ý đến một vật nào đó, thì nó không hiện có với tôi. Vua Lương không hiểu lý duyên sinh, vì duyên sinh ra nên tất cả đều huyển mộng, nên lúc nào cũng muốn người khác khen tặng, tâng bốc, để ý. Vì thế, tổ Bồ-đề Đạt-ma bảo rằng “không có công đức”, thực ra Vua Lương có công đức chưa không phải là không có công đức, nhưng công đức mà Vua Lương hiểu là công đức hữu hạng, công đức của thế tục đế, của người đời phàm tục mà không phải là công đức siêu việt, khơng phải công đức của chân đế. Nhưng vì trình độ của Vua Lương hiểu và làm như thế cũng là đúng, do đó câu nói của tổ nhằm mục đích khuyến khích Lương Võ Đế tiến lên một bước nữa để đạt đến công đức siêu việt (cơng đức Ba-La-Mật), không nên dừng ở công đức thông thường của người đời. Không hiểu được tính công đức là hạnh lành siêu việt ba cõi dục giới, sắc giới và vơ sắc giới.

 

Cũng như việc truyền pháp cho bốn đệ tử của tổ, mỗi vị vì trình độ đạt đạo khác nhau, nên hiểu biết cũng khác nhau, do đó trả lời và thái độ cũng khác nhau. Ba vị trước mặc dù có cao hơn người đời, nhưng vẫn còn dừng nơi thế giới duyên sinh, trong lúc đó, Huệ Khả vượt qua thế giới cái này có, cái kia có, cái này không, cái kia không, và đạt đến thế giới siêu việt tuyệt đối, thế giới không thể dùng ngôn ngữ, ký hiệu để mô tả được, vì nó “yết đế, yết đế, ba-la-tăng yết đế bồ-đề tát-bà-ha”,tiếng Bắc ấn gọi là gate, gate, paragate bodhisattva, vượt qua, vượt qua và bồ-tát vượt qua tất cả, thế giới phi thế giới, tạm gọi là thế giới của vô ngôn thuyết tướng, vô danh tự tướng, vô tâm duyên tướng.

 

Vì vậy, trước sự im lặng của vị đệ tử Huệ Khả, tổ Bồ-Đề Đạt-Ma mang bát quý và áo Tăng-Già-Lê của Phật truyền lại cho Huệ Khả. Do đó, tùy trình độ của con người, của chúng sinh mà xem xét, phán đoán và hiểu khác nhau. Bởi vì trình độ của mỗi người chỉ đến đó, thì chúng ta không thể bắt buộc họï vượt xa hơn được. cũng như không thể bắt đứa bé năm mười tuổi giải bài toán số học hoặc siêu số được. Vì thế, chúng ta nên thông cảm hơn là trách móc và nên khuyến khích họ cố gắng tiến lên mà không nên xa rời hay từ bỏ họ.

 

Trong Bát-Nhã Tâm-Kinh là tóm lược cho dễ hiểu nhưng phải có chữ Paramita tức vượt qua bờ phiền não, vượt qua bến mê, vượt qua trạng thái cố chấp của tâm hồn, vượt qua sự hạn hẹp, sự nhỏ bé của tâm hồn con người, tâm hồn của chúng sinh, vượt qua thế giới hiện tượng, vượt qua và vượt qua tất cả thân-khẩu-ý của chúng sinh, vượt qua mọi ký hiệu, mọi ngôn ngữ chữ nghĩa. Bởi vì ngôn ngữ là gì? nó chỉ là những lời nói hoặc chữ viết hoặc ký hiệu (toán học) v.v...đều là những khái niệm do tâm hồn con người nghĩ và đặt ra, để giúp cho đồng loại hay tha loại hiểu nhau, cảm thông nhau hoặc thông tri cho nhau. Vì thế, những thứ ký hiệu, chữ nghĩa, ý nghĩa đều là những khái niệm, thuộc thế giới tương đối, ngay cả tâm hồn con người, tâm hồn của các loài trời ở các haven, tâm là bản thể của ký hiệu, ngôn ngữ chữ nghĩa cũng nằm trong phạm trù của phiền não, khổ đau và rất giới hạn, nói theo ngôn ngữ phật học thì ngôn ngữ, chữ nghĩa, ký hiệu là cái Dụng của khái niệm hay cái Dụng của tâm khái niệm mà không phải là Thực Tướng của Tâm Chân Như, nhưng vì là dụng bát nhã hay phương tiện bát nhã, nên nó là trung tính, không thiện không ác, không tốt không xấu, nhờ nó mà chúng ta truyền đạt cái thiện, truyền đạt để trừ bỏ cái ác, khuyến khích chúng sinh tiến lên siêu việt, giúp chúng sinh đóng cửa ba đường sáu nẻo. Vì trong Bát Nhã gồm có ngôn ngữ bát nhã, phương tiện bát nhã và sau cùng là thực tướng bát nhã, hai cái bát nhã trước giống như ngón tay chỉ mặt trăng hay bảng đồ hay information hay direction vậy.

 

Vì thế, mặc dù rút gọn bằng chữ Bát-Nhã Tâm Kinh hay Tâm Kinh (the heart sutra) thì chúng ta vẫn phải hiểu ngầm có chữ Pa-ra-mi-ta (Paramita), vì thiếu chữ này thì khó hiểu được tính rốt ráo của nó. Bởi vì, cuối Tâm Kinh chúng ta trực nhận ra rằng “Vì không chỗ chứng đắc, nên Bồ-Tát y theo Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa (Prajna Paramita), Tâm không (bị) ngăn ngại. Vì không (bị) ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẵn điên đảo mộng tưởng (xa rời các phiền não, các tri chướng và các sở tri chướng, tức óc tự cao tự đại, hiu hiu tự đắc, hạ mục vô nhơn của thế gian trí), đạt tới cứu cánh Niết-Bàn, hoặc hiểu câu này theo nghĩa khác không có chữ “bị”, nghĩa là khi đạt đến trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối, hoàn toàn thuần tịnh, tuyệt đối trong suốt, vượt qua tất cả mọi đỏ đen, mọi phải trái, mọi đúng sai, mọi chữ nghĩa, mọi phiền não, mọi cái không phiền não, vượt qua tính tương đối của thế giới hiện tượng và cả thế giới phi hiện tượng (metaphisical world). Nói dễ hiểu hơn, khi tâm hồn trở nên thuần tịnh, sẽ vượt qua khỏi giới hạn của thế giới tâm-sinh-vật-lý, thì thế giới phân hai của tính nhị nguyên tự biến, nên không có cái gì được gọi là chứng đắc, ngay cả chủ thể và chữ chứng đắc cũng không còn lãng vãng, nên các Bồ-Tát đều y theo Trí-Tuệ Siêu-Việt Tuyệt-Đối này mà tâm không bị ngăn ngại, tâm không bị ngăn ngại nên không còn sợ hãi, theo cách giãi thích này, chúng ta thấy sự tích cực nhập thế cứu đời hay cứu thế gian đau khổ của các Bồ-tát như Đức Quán-Thế-Âm, Đức Địa-Tạng-Vương lập nguyện “khi nào chúng sinh trong các địa ngục còn khổ đau, tôi thệ chưa thành Phật. Khi nào chúng sinh trong các địa ngục đã thành Phật cả rồi, khi đó tôi mới chứng quả Bồ-Đề”. Các Ngài cứu khổ trong địa ngục mà tâm luôn thản nhiên, rất tự tại. Vì vậy, có vô số, vô biên các Bồ-Tát ở ngay trong phố xá thị thành, giữa chốn phồn hoa đô hội hay giữa bùn lầy của chợ đời, để cứu khổ chúng sinh, vẫn không bị dính mắc, không bị trục trặc, lòng vẫn an nhiên, không hề sợ hãi bất cứ điều gì, mọi mộng tưởng điên đảo, mọi thứ bùn nhơ, ngay cả bùn sạch cũng không dính vào được. Vì thế, bùn làm cho rễ sen lên mầm, nảy lá xinh tươi, trổ hoa đẹp đẽ, thì bùn này trở thành duyên tốt làm phát sinh ra hoa đẹp, hơn nữa bản chất của bùn không tốt, cũng chẳng xấu, do năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và năm giác quan và óc phán đoán, óc phân biệt của con người, của chúng sinh mà nó trở thành tốt hay xấu, dơ hay sạch. Nói khác, dâm phòng, tửu điếm, vô phi thanh tịnh đạo tràng của các Bồ-Tát nghĩa là đối với đầu óc thế gian, thì phòng dâm, tiệm rượu là nơi xấu xa, tội lỗi, nhưng đối với các bậc đã đạt đến Tâm Thuần Tịnh hay Trí-Vô-Phân-Biệt, thì tính tốt xấu, đúng sai nghĩa là tính nhị nguyên, tính phân chia nhân-ngã-bỉ-thử, chủ-thể và đối tượng không còn là sự trở ngại, không còn làm cho chúng ta bị điên đảo, bị dính mắc, bị trục trặc hay bị trở ngại nữa, nên Bát-Nhã Tâm-Kinh gọi là vô quái ngại.

 

Đúng như vậy, Bồ-tát đã đạt đến trí tuệ siêu-việt tuyệt đối, nguyện độ hết chúng sinh trong ba cỏi, thì chỗ nào cũng là đạo tràng thanh tịnh. Các Đức Phật từ quá khứ đến hiện tại và tương lai cũng y theo trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối hay Trí-Tuệ Bát-Nhã mà thành tựu hạnh nguyện tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Trí-tuệ siêu-việt tuyệt đối, thuần tịnh sáng suốt, là cao nhất, vì nó vượt qua (siêu việt) tất cả phạm trù, xa rời tất cả mọi hiện tượng tâm-sinh vật-lý thuộc về thế giới duyên khởi hay thế giới do các nhân và các duyên, các điều kiện thuận nghịch, hổ tương nên có hợp hợp tan tan, tan tan hợp hợp. Vì thế, các Bồ-Tát sau khi đạt đến giai đoạn thứ mười, tức là đã đạt đến thập địa, hay thập trụ, cịn được gọi là thập hồi hướng rồi, các Ngài, vì lòng thương vô biên cương, tức lòng đại bi, một trong bốn thệ nguyện lớn của Bồ-Tát và của Chư Phật là “Chúng sinh trong vô-số thế giới, nhiều vô số, không thể kể hết được, tôi thệ nguyện cứu độ rốt ráo” (Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng, thệ nguyện học, Phật-Đạo vô thượng thệ nguyện thành). Vì thế, một trong những ý nghĩa của câu thần chú sau cùng của Bát-Nhã Tâm Kinh là “Vượt qua, vượt qua, vượt qua và vượt qua tất cả, đó chính là Bồ-Tát (Yết-đế, Yết-đế, Ba-la Yết-đế, Ba-la-tăng Yết-đế, Bồ-đề Tát-Bà-Ha) tiếng Bắc Ấn đọc là Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhisatva. (còn rất dài, vì chưa động đến thế giới hiện tượng, tức thế giới duyên khởi và các Ngài đi khắp các thế giới trong vô-tận-giới để cứu độ chúng sinh trong tinh thần Nhị-đế Dung Thông Tam Muội Ấn).

 

Chân đế và Tục đế là một, không đến, không đi, không một cũng không khác, con cúi đầu đảnh lễ Đấng Từ Tôn.

 

 Hòa Thượng Thích Chơn Thành
 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn