Chữ Như Trong Văn Học Dân Gian

01/03/20177:34 CH(Xem: 385)
Chữ Như Trong Văn Học Dân Gian

Chữ Như

TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN & PHẬT GIÁO.

                                                                                                                         Đức Hạnh

1-Tướng  Như Vậy (Như thị tướng).
Tướng, là tướng trạng bên ngoài của mọi vật và chúng sanh, được thấy rõ ràng, nó được biểu thị là cái vỏ, bao bọc, thùng, vại… Nhìn thấy tướng bên ngoài như thế nào, là biết những thứ bên trong của tướng, vì có liên đới mật thiết với tướng. Như ở con người được biểu lộ ra những lời nói, hành động thiện ác, hiền lành, hung dữ, mạnh bạo, bệnh hoạn (ngũ suy tướng hiện). Tâm như thế nào, tướng như vậy. Đúng với ngạn ngữ Việt Nam : “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”.

2- Tánh Như Vậy (Như thị tánh)
Tánh thuộc về bản chất. Nói như triết học Tây phương: “Bản chất không bao giờ thay đổi”. Tánh được biểu thị như một cái thùng chứa các nghiệp thiện, ác (lãnh vực con người. Có thể được thay đổi bởi giáo lý Phật- tu là chuyển nghiệp).Tánh chìm sâu trong bản thể vạn hữu khó mà thấy được. Trong mỗi bản thể vạn hữu và chúng sanh đều có tánh riêng muôn đời không biến dịch. Tánh vật này không giống vật kia, tánh người này khác với người kia. Việt Nam ta có câu: “Tánh nết, đánh chết không chừa”. Mặc dù tánh nằm sâu trong các vật khó thấy nhưng, sẽ được thấy do gặp các duyên, như tánh lửa có trong đá. Người ta muốn lấy lửa, dùng thanh sắt đánh vào đá, những tia lửa văng ra, vào bùi nhùi bằng bông gòn, cháy lên, bốc khói. Tánh còn được dùng chỉ cho các lý tánh: như Phật tánh, Thiên bản tánh, Nhân bản tánh, Ngạ quỷ tánh, Súc sinh tánh, A tu la tánh,…Con người có nhiều tánh, gọi là bá nhơn, bá tánh. Tánh người sân hận, thì ưa cãi vả, đánh lộn. Tánh người đố kỵ, thì ưa nói thầm, dán nhãn người khác. Tánh người tham lam, thì ưa đánh cấp các vật dụng, vân vân…

3- Thể Như Vậy (Như thị thể).
Thể, là phần nhất định bất biến của vạn pháp, cho nên thể vô sai biệt, bất sinh bất diệt, gọi đó là đương thể, cần có một huệ nhãn mới thấy được đương thể đó, cũng gọi là thể chất, là chủ thể, bản thể vạn pháp.
Thể, bao giờ cũng vô hạn. Thể cũng là dụng, dụng cũng là thể. Như thể của nước là lỏng, công dụng của nó là nuôi sống con người : uống và rửa sạch vết dơ… Như cây đèn, thể của nó là sáng, công dụng của nó là đuổi bóng tối. Như các thứ chuối, cam, đậu phụ, cơm…để đó không ăn, sẽ bị hư thối, nhưng đưa vào bụng thì được biến thành tư thể của ta.  Thể có hai loại, tìm thể và hiển thể. Tìm thể là chân như, Hiển thể là vạn pháp, gọi là bản thể vũ trụ, một tổng thể đại đồng. Từ đây cho ta thấy trong các giới : từ địa ngục, ngạ quỷ,… cho đến thiên giới, nhân giới, đều có cái thể của sắc thân, cho nên năm uẩn, mười hai xứ đều lấy sắc và tâm làm thể. Nếu không nói là Thể, đồng với Sắc, Thọ,Tưởng, Hành, Thức.
Tánh và tướng đều thuộc tánh của Thể gọi là Thể tánh. Cho nên Thể không lìa Tướng, Tướng không lìa Thể, như nước không lìa sóng, sóng không lìa nước. Kinh văn nói: “ Tất cả chúng sanh  và Phật đều đồng Phật tánh. Có nghĩa là bản thể chúng sanh đồng với bản thể của Phật, là thường hằng tịch tịnh (Phật, chúng sanh tâm thường rỗng lặng).
Trên đường tu tập, tâm ta cứ bị dính mắc vào hiện tượng, cho nên không thấy được bản thể như thị, gọi là mê. Ngược lại cứ đem tâm dính mắc vào bản thể, cho nên không thấy được hiện tướng, cũng không gọi là tỉnh.

4- Lực Như Vậy (Như thị lực).
Lực, là một tạp ngữ, chỉ về lực dụng, công năng tác dụng. Mỗi  bản thể vạn pháp và con người trên vũ trụ này đều có cái lực dụng riêng cho tự thể mình và chúng sinh. Đúng như kinh văn nói : “ Như chư pháp chúng sanh trong 10 phương pháp giới đều có công năng và lực dụng.
Về nhân lực, như nhà vua lấy uy quyền làm lực. Chư vị A La Hán lấy tinh tấn làm lực. Chư vị Tỳ kheo lấy nhẫn nhục làm lực. Nhân loại lấy tri thức làm lực. Chư Phật lấy đại từ bi tâm làm lực, vân vân…trên bước đường hoằng hóa độ sanh. Đệ tử Phật ở hai giới Cư Sĩ, có quy y Tam Bảo, nếu không lấy từ bi tâm làm lực trên vận hành phụng sư đạo pháp, thì nhất định sẽ không có Lục hòa trong ngôi chùa, các Giáo Hội Phật Giáo !
Về vật lực, nhiều vật trên trái đất này có công năng lớn, được tìm tàng bên trong bản thể của chúng, gặp các duyên sẵn sàng cung ứng thể lực hữu ích cho chúng sanh trong đời sống, như những thứ :đất, nước, gió, lửa, đồng, chì, kẽm, sắt, cây, gỗ, đá, sỏi, đất bùn, đất cát, các thứ màu sắc vân vân…được thấy rõ qua nhiều hiện tượng hiện thực, như nhà cửa, xe cộ, các thứ thực dụng tranh ảnh đủ màu sắc, v,v…sau khi con người sử dụng trong việc ra công tạo tác.
 
    5- Tác Như Vậy (Như thị tác).
Tác, là những sự việc, lời nói được hiển lộ ở động tác của tay chân và miệng của một con người đang hành động và nói năng (nghiệp) do từ tâm ý, thân, miệng phát sanh ra (tác).

6- Nhân Như Vậy (Như thị nhân)
Nhân, (nghĩa đen hạt giống), những vật, các việc hữu tướng, vô tướng có năng lực làm nguyên nhân trực tiếp với sự việc, các vật để sau đó có kết quả.
Nhân còn gọi là tập nhân, do vì trong các pháp giới chúng sanh đều có sự kết tập về Nhân ở từng phần thiện hay ác, rồi sống theo các pháp mà có ra quả thiện ác. Phật thuyết về Nhân, có hai : thuyết 6 Nhân và thuyết 10 Nhân. Thuyết 6 Nhân ở Câu Xá Luận, thuyết 10 Nhân ở Du Già Luận, Do đó cho thấy, Quả không bao giờ có một Nhân mà thành, phải do nhiều Nhân hợp lại mới thành  ra Quả.

7-Duyên Như Vậy (Như thị duyên).
Duyên, thật sự là những nhân duyên gián tiếp theo sau, là điều kiện giúp vào cho cái nguyên nhân trực tiếp đầu tiên được có kết quả tròn đầy, cho nên Nhân cũng chính là Duyên. Sở dĩ nói  Duyên, là nói đến các Nhân khác trợ giúp cho Nhân đầu tiên được có Quả, nên mới nói là Nhân Quả.

8- Quả Như Vậy (Như thị quả).
Quả, là sản phẩm hiện thực của ý nghĩ (nhất thiết duy tâm), lời nói và hành động, là nhân tố chính và những nhân tố phụ (duyên) hòa hợp nhau tạo tác (nghiệp) ra Quả.
Khoảng cách giữa nhân và quả không nhất định thời gian. Tất cả giai do điều kiện của nhân chính, nhân phụ tương duyên nhau. Do đó Quả
có thể được có ngay hiện tại (đồng thời) hay tương lai (dị thời- tức là khác thời). Hoặc là, cho đến mãi ở kiếp kế tiếp, Quả mới được hiện hành đối với chúng sanh.
Một vài tư tưởng về Quả : Quả là sở sinh. Chốc lấy Quả là nhân, thu được là Quả. Hết thảy các pháp hữu vi trước sau nối tiếp nhau. Cho nên đối với nguyên nhân trước mà nói, các pháp sinh ra sau, gọi là Quả, Như các đạo sư tạo ra cái nhân chân tâm và tiếp tục tu hành chơn chánh đến hằng chục năm sau hay kiếp kế tiếp mới đạt được cái Quả Giác ngộ. Quả, chẳng qua là sự hổn hợp của nhiều nhân phức tạp. Nhân như huyển sanh ra Quả như huyển cho nên mới nói Như thị Quả, Quả như vậy.

9- Báo Như Vậy(Như thị báo).
Báo, có nghĩa là báo ứng. Tức là những quả thiện, ác cũ của kiếp trước mà chúng sinh (con người) đã tạo ra không bao giờ bị mất, Cho nên sau khi chết, con người mang theo ở một kiếp sau hay nhiều kiếp sau ở quốc độ nào đó, được có bản thân ra sao, sự nghiệp sống được sung sướng, hạnh phúc, giàu sang (lạc quả) hay khổ đau, nghèo khó (khổ quả). Nói như người đời : “ Nghiệp báo theo hoài. Nghiệp báo oan gia”. Nghiệp là nhân, quả là báo.
Mỗi con người hiện tại ở kiếp này, là hiện thân của quả báo ở kiếp trước. Cho nên con người ở mọi giai cấp, chỉ có một quả báo đang hiện hành ở bản thân trong đời sống thực tại chứ không thể có cùng lúc hai quả báo trong một bản thân hiện tại, nói như lời văn phương Tây: “Không thể tắm cùng lúc hai dòng sông”. Những nghiệp nhân thiện, ác đang tạo ra ở kiếp này, chúng sẽ báo ứng ở kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa.
Nói khác hơn, căn cứ theo nghiệp nhân thiện, ác ở thời quá khứ sẽ nhận được quả báo sướng, khổ, giàu sang, nghèo khó ở đời hiện tại. Căn cứ vào các nghiệp nhân thiện, ác ở đời hiện tại ra sao, sẽ bị, được quả báo ở đời sau như thế đó. Như thị báo là như vậy.

10- Bản Mạt Cứu Cánh Đẳng Như Vậy (Như thị bản mạt cứu cánh đẳng).
Bản, là gốc, đầu tiên, chỉ cho tướng trạng của vạn hữu ở đề tài “Như Thị Tướng số 1.”. Mạt, là ngọn, sau cùng, chỉ cho quả báo ứng ở đề tài “Thị Báo số 9” Cứu cánh đẳng, nghĩa là rốt ráo bình đẳng. Tức là Như thị số 10 này, là lời kết luận tổng thể vạn pháp từ TƯỚNG cho đến BÁO, trong và ngoài bản thể vạn pháp, chỉ là hiện hữu theo tương quan duyên khởi, không tự thể tức VÔ NGÃ. Nghĩa là, mọi bản thể vạn pháp, là do các nhân duyên giả hợp kết tụ phát sinh, cho nên đều KHÔNG. Chính cái Không ấy, là thực tướng đồng nhất của vạn pháp, thật rốt ráo và bình đẳng theo quy luật của nhân quả.
Mười đạo lý Như Vậy (Như thị) được trình bày vừa rồi, chính là cái chìa khóa mở tung 9 cánh cửa bí mật của VẠN PHÁP và CON NGƯỜI để thấy Phật hiện hữu trong đó. Nói như lời kinh Hoa Nghiêm ở phẩm 33 : “Khắp cả hư không, ở mỗi một chỗ chỉ bằng đầu sợi lông, đều có vô lượng cõi Phật; ở mỗi cõi Phật như vậy, trong mỗi một niệm, Phật ứng hiện vô số hóa thân nhiều như bụi để chuyển pháp luân”.
Những đạo sư thiền định cũng có những tư tưởng tương tợ: “Ta thấy Phật hiện hữu ở những chiếc lá vàng lìa cành đang rơi rụng trên đất. Ta nghe dòng suối chảy, như pháp âm Phật đang chuyển pháp luân. Những pho tượng tại các công viên, thì đó là chư Phật đang nói pháp. Ai đó đưa tay ngắt cành hoa Mimoza bên vệ đường, sẽ động đến bản thể chúng sanh trong ba ngàn thế giới”. Còn tiếp.
                                          Đức Hạnh                                      
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn